Cổng thông tin điện tử Tỉnh Đoàn tỉnh An Giang
 
 
 
 
 
 

Liên kết Website
Skip portlet Portlet Menu
 
 
Hit counter
 
 
 
 
 
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tỉnh An Giang
Sơ thảo lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng của thanh niên An Giang 1930 - 1975 (24/12/2009)

An Giang là quê hương của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người Việt Nam đầu tiên kéo lá cờ trên chiếc Tuần Dương hạm của Pháp ở biển Hắc Hải để ủng hộ nước Nga Xô-Viết. Bác Tôn là người bạn chiến đấu thân thiết, người đồng chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Từ cù lao Ông Hổ thuộc thị xã Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên) người thanh niên Tôn Đức Thắng đã rời bỏ quê hương lên Sài Gòn lập nghiệp, sau đó hoạt động cách mạng và cả cuộc đời của Bác chiến đấu cho lý tưởng độc lập tự do của Tổ quốc. An Giang rất tự hào vì đã sản sinh ra Bác Tôn, người cộng sản kiên cường, vị Chủ tịch nước quí mến của dân tộc.

Trải qua nhiều chuyển biến và thăng trầm của lịch sử, An Giang đã thay đổi qua nhiều tên gọi khác nhau, nhưng khi nói đến An Giang người ta thường để chỉ vùng Long Xuyên, Châu Đốc.

An Giang là quê hương của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người Việt Nam đầu tiên kéo lá cờ trên chiếc Tuần Dương hạm của Pháp ở biển Hắc Hải để ủng hộ nước Nga Xô-Viết. Bác Tôn là người bạn chiến đấu thân thiết, người đồng chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Từ cù lao Ông Hổ thuộc thị xã Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên) người thanh niên Tôn Đức Thắng đã rời bỏ quê hương lên Sài Gòn lập nghiệp, sau đó hoạt động cách mạng và cả cuộc đời của Bác chiến đấu cho lý tưởng độc lập tự do của Tổ quốc. An Giang rất tự hào vì đã sản sinh ra Bác Tôn, người cộng sản kiên cường, vị Chủ tịch nước quí mến của dân tộc.

Là một phần lãnh thổ của Việt Nam, An Giang cũng nằm chung với số phận của đất nước, phải chịu sự thống trị của bọn thực dân, đế quốc. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhà, nhân dân An Giang không hề khuất phục và đã vùng lên đấu tranh một mất một còn với kẻ thù, liên tiếp đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật, đế quốc Mỹ để giành lại cuộc sống tự do cho nhân dân tỉnh nhà.

Một số ban ngành, đoàn thể đã cho viết lại những chặng đường đấu tranh cách mạng của mình. Đảng bộ An Giang cũng đã cho ra mắt cuốn “Sơ thảo lịch sử Đảng bộ An Giang 1927 - 1945”. Hòa mình vào cuộc đấu tranh chung đó, các thế hệ tuổi trẻ An Giang đã góp phần xứng đáng công sức của mình vào những thắng lợi vĩ đại của nhân dân trong tỉnh.

Hưởng ứng đợt phát động của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về việc viết lại lịch sử Đoàn ở khắp các địa phương trong cả nước, được sự đồng ý của tỉnh Đảng bộ An Giang, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh An Giang đã quyết định cho biên soạn cuốn “Sơ thảo lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng của thanh niên An Giang 1930 - 1975” nhằm ôn lại những truyền thống hào hùng của các thế hệ thanh niên Long Xuyên, Châu Đốc qua các thời kỳ lịch sử trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ đó giáo dục cho tuổi trẻ tỉnh nhà niềm tự hào đối với những người đi trước, đồng thời phát huy những truyền thống tốt đẹp đó trong công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa trên vùng đất Bảy Núi anh hùng.

Trong quá trình tìm hiểu sưu tầm nghiên cứu nguồn sử liệu, chúng tôi được sự giúp đỡ tận tình đầy trách nhiệm của các cán bộ lãnh đạo, những người đã trực tiếp lãnh đạo, tổ chức và hoạt động trong các phong trào thanh niên, được các ban ngành, đoàn thể khác cung cấp nhiều tài liệu quí hiếm. Nhưng việc dựng lại một thời kỳ lịch sử tương đối dài của phong trào thanh niên, trong khi nguồn sử liệu, tài liệu tham khảo lại quá nghèo nàn, đây lại là lần đầu tiên bắt tay vào việc biên soạn vì thế cuốn “Sơ thảo lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng của thanh niên An Giang 1930 - 1975 chắc chắn sẽ còn nhiều hạn chế và thiếu sót, thậm chí có thể có những sự kiện chưa thật chính xác, đánh giá chưa đúng… Ban biên tập mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, giúp đỡ, chỉ bảo của tất cả mọi ngành, mọi người, của các cán bộ cách mạng lão thành, các nhà làm sử… và của tất cả những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục truyền thống cho thanh niên tỉnh nhà, để cuốn “Sơ thảo lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng của thanh niên An Giang 1930 - 1975” không ngừng được bổ sung đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.


BAN BIÊN TẬP SƠ THẢO LỊCH SỬ PHONG TRÀO
ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA THANH NIÊN AN GIANG


PHẦN THỨ NHẤT

CHƯƠNG MỞ ĐẦU:
VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI AN GIANG

* Đất An Giang:
Theo các nguồn sử liệu An Giang được hình thành cách đây hơn hai thế kỷ, tức vào năm 1779 thuộc trấn Long Hồ, đến năm 1832 dưới thời Minh Mạng chính thức thành lập 6 tỉnh Nam Bộ, trong đó có An Giang. Theo truyền thuyết nơi đây có một con sông chảy qua mang theo một lượng lớn phù sa bồi đắp cho đồng ruộng tạo nên vùng đất trù phú màu mỡ thuận tiện cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp đặc biệt là nghề trồng lúa nước, nên mảnh đất này đã thu hút đông đảo lưu dân từ khắp mọi nơi đến đây lập nghiệp. Do đó, những dân cư đầu tiên đặt tên cho vùng đất này là “An Giang” hàm ý chỉ nơi đây có cuộc sống an khang, thịnh vượng.
Kể từ khi xuất hiện trên bản đồ nước ta trải qua hàng mấy trăm năm, An Giang tồn tại và phát triển theo từng bước đi của cả dân tộc. Để phù hợp với từng thời kỳ lịch sử và phục vụ cho các nhiệm vụ của các cuộc kháng chiến của nhân dân trong tỉnh, An Giang có nhiều tên gọi khác nhau: Long Châu Tiền - Long Châu Hậu (1948), Long Châu Sa - Long Châu Hà (1950), An Giang (1956), An Giang - Châu Hà (1971), Long Châu Tiền - Long Châu Hà (1974). Đến ngày 20/12/1975 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Long Châu Tiền - Long Châu Hà thành lập chính thức tỉnh An Giang cho đến ngày nay. Nhìn chung khi nói đến An Giang thường để chỉ vùng Long Xuyên - Châu Đốc (Theo cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ của nhân dân An Giang ” - Tập 1, Tr. 11).
Tỉnh An Giang nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc thuộc vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long. Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, Đông Nam giáp tỉnh Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ), Tây Bắc giáp nước Campuchia và đường biên giới dài 100km.
Về tổng thể An Giang là vùng đất phù sa mới, địa hình có thể chia làm 3 khu vực:
- Vùng đất cù lao bao gồm các huyện: Phú Châu (nay tách thành hai huyện An Phú và Tân Châu), Phú Tân và Chợ Mới nằm giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu.
- Vùng đất có đồi núi thấp gồm các huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn và Thoại Sơn, có cấu trúc hình cánh cung tiếp giáp với biên giới Campuchia tạo thành tuyến phòng thủ tự nhiên của ta ở biên giới Tây Nam, nơi đây là căn cứ địa cách mạng vững chắc qua các thời kỳ chống các thế lực phong kiến xa xưa và thực dân đế quốc sau này.
- Cuối cùng là vùng đồng bằng trũng nằm ở hữu ngạn sông Hậu chiếm phần lớn diện tích khu vực tứ giác Long Xuyên bao gồm phần lớn hai thị xã Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên) và Châu Đốc, hàng năm vùng này bị nhiều tháng nằm trong biển nước mênh mông.
Là một tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho việc đi lại bằng đường thủy của nhân dân trong tỉnh và lân cận, đồng thời phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, với nhiều loại hình vật nuôi và cây trồng phong phú, đa dạng. Ngoài ra, dưới các dòng sông còn chứa đựng một trữ lượng tôm cá tự nhiên khá lớn.
Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản khá phát triển nhất là vùng Tân Châu, Châu Đốc. An Giang là một trong những tỉnh trọng điểm của cả nước về sản xuất lúa gạo. Đường sông là phương tiện đi lại chủ yếu của nhân dân trong tỉnh, đường bộ tuy chưa phát triển đều khắp trong tỉnh nhưng ở hai thị xã Long Xuyên và Châu Đốc giao thông đường bộ tương đối khá, đặc biệt từ Châu Đốc đến Tịnh Biên có thể đi thẳng sang Campuchia là trục giao thông quan trọng về kinh tế và quốc phòng, giúp nhân dân hai nước có thể qua lại buôn bán dễ dàng.
Người Việt đầu tiên đến vùng đất Đồng Nai - Gia Định (tức vùng đất Nam Bộ ngày nay) trong đó có An Giang, là những nông dân từ miền Trung, miền Bắc do bị bần cùng hóa một cổ chịu năm bảy tròng mà Nguyễn Cư Trinh đã ví “10 con dê đến 9 người chăn, nghèo khổ thất nghiệp rất là đáng thương” (Sơn Nam - Đất Gia Định xưa… NXB TP.HCM), đây là những cư dân người Việt đầu tiên tự động kéo đến vùng đất hoang vu này. Một bộ phận thứ hai là những người khá giả có tiền của ở đất Thuận Hóa được các Chúa Nguyễn cho phép họ chiêu mộ từng đoàn người đi về phía Nam khẩn hoang lập làng, về sau những người này trở thành tầng lớp quan lại ở địa phương có nhiều đặc quyền đặc lợi. Một bộ phận đáng kể khác là những người mắc tội lưu đày tình nguyện đi khai phá vùng đất mới này để được xóa án, tự do làm ăn sinh sống, hoặc binh lính của triều đình được lệnh điều đi đồn trú ở vùng biên cương xa xôi có nhiệm vụ xây dựng kinh tế lâu ngày họ an cư lạc nghiệp cùng với vợ con gia đình tại những miền đất này.
Ngoài những dân cư người Việt nói trên, còn có các cư dân các dân tộc cư trú lâu đời như người Khơmer hoặc mới đến sau như người Hoa, người Chăm…
Người Việt khi mới đến họ chọn những vùng đất cao gần sông rạch thuận lợi cho việc đi lại nhưng chưa có người để khai phá, do đó trong suốt quá trình khẩn hoang lập làng không xảy ra sự tranh chấp xung đột nào giữa những người mới đến với người Khơmer đang sinh sống tại chỗ, trái lại họ nhanh chóng hòa nhập vào nhau, đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau, cùng kề vai sát cánh mỗi khi có ai gặp khó khăn, hoạn nạn, hoặc cùng nhau chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên đang ngày đêm đe dọa cuộc sống của họ. Chính trong quá trình đấu tranh sinh tồn đó đã hình thành nên những đức tính và truyền thống đạo đức cao đẹp của dân cư vùng này như: gắn bó với quê hương làng xóm, lòng nhân ái, tình cảm chân thành thẳng thắn, trọng nghĩa, khinh tài… là nét đặc sắc của đồng bào Nam Bộ nói chung và bà con vùng An Giang nói riêng.
Khu vực Chợ Mới là điểm cư dân nười Việt đặt chân lên đất An Giang và sinh cơ lập nghiệp sớm nhất tại đây vào thế kỷ XVII. Chợ Mới là vùng đất cù lao cao ráo nằm giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu, đất đai màu mỡ thuận lợi cho con người đến khai phá rừng hoang để sản xuất và sinh sống. Một thời gian sau họ tiến dần đến vùng đất tiếp giáp Campuchia. Những đồn binh và dân cư đến khai khẩn làm ăn, buôn bán ở Tân Châu, Châu Đốc… hình thành nên những điểm dân cư quan trọng ở An Giang.
An Giang là một tỉnh biên giới. Ngay từ những buổi ban sơ khẩn hoang lập làng, các Chúa Nguyễn đã rất quan tâm đến việc đào đắp xây dựng một hệ thống đường sông và đường bộ nhằm phục vụ cho công việc sản xuất và bảo vệ biên cương của Tổ quốc (sau này thực dân Pháp đã khai thác triệt để hệ thống này để vơ vét lúa gạo và đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của những người yêu nước), như: Kinh Thoại Hà (1817) dài 30km nối liền Long Xuyên - Rạch Giá, Kinh Vĩnh Tế (1814 - 1824) từ Châu Đốc đi Hà Tiên dài 100km đây là đường giao thông chiến lược quan trọng chạy dọc theo biên giới Việt - Campuchia do Nguyễn Văn Thoại (gọi theo chức tước là Thoại Ngọc Hầu) trực tiếp đốc xuất dân chúng đào đắp.
* Con người An Giang:
An Giang có diện tích 3.492km2, với số dân 1.800.000 người trong đó có 440.000 người ở độ tuổi thanh niên, riêng số Đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chiếm 35.740 người. Cư dân gồm nhiều dân tộc khác nhau nhưng đông đảo hơn cả là dân tộc Việt, kế đến là dân tộc Khơmer, một ít người Hoa và người Chăm… Mỗi dân tộc đều có những tập quán, tôn giáo, đời sống văn hóa riêng đồng thời lại có sự hài hòa giao lưu giữa các dân tộc tạo nên những nét văn hóa mang tính cách chung của người dân An Giang.
Người Khơmer chiếm khoảng 1,5% dân số toàn tỉnh, họ sống tập trung theo từng địa bàn nhất định hình thành các phum, sóc biệt lập như các phum, sóc ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn… đây là bộ phận cư dân có mặt sớm nhất và lâu đời nhất ở An Giang, nghề chính của họ là làm ruộng, chăn nuôi, một ít làm thợ thủ công.
Người Việt chiếm tuyệt đại đa số, khoảng 95% dân số trong toàn tỉnh, đây là bộ phận cư dân đông đảo nhất, là lực lượng chủ yếu trong công cuộc khẩn hoang lập nên vùng đất mới này. Họ là nhừng người chán ghét cuộc sống áp bức bất công của bọn địa chủ phong kiến nên từ miền Trung lũ lượt kéo vào Nam lập nghiệp, họ yêu chuộng tự do, giàu lòng nhân ái, cởi mở, phóng khoáng, có tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Người Việt cư trú tập trung ở các cù lao, dọc theo các trục giao thông đi lại thuận tiện, họ sống chủ yếu vào nghề nông, đặc biệt có nhiều kinh nghiệm trong nghề trồng lúa nước, một số ít về sau chuyển sang nghề mộc, các nghề thủ công khác… Người Việt chi phối phần lớn đời sống vật chất và tinh thần đối với nhân dân trong tỉnh.
Người Chăm có khoảng 1%, cư dân chủ yếu tập trung ở Phú Châu (Tân Châu và An Phú) và Phú Tân. Họ sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt tôm cá, ươm tơ, dệt lụa (Tân Châu) một số ít khác làm nghề buôn bán.
Người Hoa có số dân tương đương người Chăm, có thể nói đây là cư dân có mặt muộn nhất ở An Giang so với các dân tộc anh em khác trong tỉnh, phần lớn họ tập trung ở hai tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc, đa số hành nghề thương mại.
Cư dân An Giang tuyệt đại bộ phận xuất thân từ nông dân, họ đến khai khẩn vùng đất mới này chủ yếu cũng để làm nông nghiệp. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên ưu đãi, do phát triển kinh tế hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người ngày càng tăng và càng phong phú đa dạng hơn nên một phần nông dân bị phân hóa chuyển sang làm nhiều ngành nghề khác nhau như: ở Chợ Mới hình thành lớp thợ thủ công chuyên nghiệp, làm thợ mộc rất nổi tiếng với trình độ mỹ thuật cao, hoặc nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa ở Tân Châu trở thành nghề truyền thống ở địa phương, ngoài ra còn xuất hiện tầng lớp thợ thủ công bán chuyên nghiệp. Sau vụ lúa người nông dân làm thêm một nghề phụ nào đó để cải thiện đời sống, hoặc họ vừa trồng lúa vừa trồng thêm một số hoa màu khác, lập vườn trồng cây ăn trái, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm…
Vùng Châu Giang (ngang Châu Đốc) cộng đồng người Chăm sống khá tập trung, chủ yếu họ sống bằng nghề chài lưới đánh bắt tôm cá từ đầu nguồn sông Cửu Long đổ về, nhất là vào nước lớn, hàng năm họ thu hoạch một sản lượng tôm cá đáng kể. Ở vùng núi Sam, núi Sập hình thành lớp thợ khai thác đá khá lâu, đa số làm thợ thủ công, những sản lượng đá khai thác được ngoài việc phục vụ các công trình xây dựng đường sá, người thợ còn chế tạo ra các cối xay bột, cối giã gạo… các công cụ làm bằng đá khác làm đồ dùng cho gia đình rất thuận tiện, nghề làm đồ dùng bằng đá khá phát triển ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn do những bàn tay khéo léo của người nông dân mà phần lớn là bà con người Khơmer làm ra.
Do có nhiều dân tộc và nhiều ngành nghề khác nhau nên có sự hòa hợp khá độc đáo về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân An Giang. Đây là một địa phương có khá nhiều tôn giáo, người Chăm đa số theo Hồi giáo, cư dân Khơmer đa số là tín đồ Phật giáo. Đông đảo nhất là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo chiếm khoảng 80% dân số trong tỉnh, vì đây là vùng đất ra đời của tôn giáo này. Bên cạnh các tôn giáo trên còn có đạo Cao Đài và Thiên chúa giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt tinh thần của nhân dân trong tỉnh.
Long Xuyên - Châu Đốc có những kiến trúc thể hiện khá rõ nét đời sống văn hóa và tính lịch sử riêng biệt của địa phương như: Lăng Thoại Ngọc Hầu (1829), Chùa Tây An (1847), Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc) mang nhiều truyền thuyết huyền bí. Nhà thờ Cù lao Giêng (1867) ở Chợ Mới… cùng hàng trăm ngôi chùa, đình mang nhiều màu sắc của từng tôn giáo, từng dân tộc, từng giai đoạn lịch sử nhất định. Sự xuất hiện và du nhập của nhiều tôn giáo vào An Giang có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Từ buổi sơ khai lập nghiệp các bậc tiền nhân phải đương đầu chống trả với nhiều sự khắc nghiệt của thiên nhiên luôn rình rập đe dọa đến sinh mạng của họ, trong khi đó ánh sáng văn hóa chưa chiếu tới những vùng xa xôi hẻo lánh này, trình độ hiểu biết về khoa học còn rất hạn chế, mang trong đầu nỗi ám ảnh lo sợ nên những cư dân đầu tiên buộc phải nghĩ đến một sức mạnh vô hình hoặc tưởng tượng ra một đấng thần linh nào đó làm chỗ dựa tinh thần che chở đùm bọc cho họ mỗi khi gặp thiên tai hoạn nạn. Sau này bọn thực dân Pháp tiếp tục tận dụng, duy trì những mê tín cũ và tạo điều kiện cho du nhập hoặc ra đời nhiều tôn giáo nhằm ru ngủ, mê hoặc nhân dân ta, nhất là đối với tầng lớp thanh niên khiến cho họ quên đi thực tại của người dân mất nước, kiếp thân nô lệ. Bọn thống trị thực dân còn sử dụng tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động gây ra sự hiềm khích giữa dân tộc Việt và Khơmer. Thâm độc và điên cuồn hơn thực dân Pháp trước kia là đế quốc Mỹ sau này đã lôi kéo mua chuộc một số phần tử nắm các chức sắc trong các tôn giáo tập hợp lực lượng làm tên lính xung kích chống phá lại phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh, gây cho Đảng bộ địa phương những khó khăn đáng kể, đặc biệt là thời kỳ Pháp quay trở lại xâm chiếm vùng Long Xuyên, Châu Đốc sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thực tế về lịch sứ chính trị - xã hội ở An Giang đã đặt ra cho Đảng bộ cũng như các ban ngành đoàn thể trong tỉnh trong đó có Đoàn Thanh niên với nhiệm vụ nặng nề là làm sao phải vạch trần cho được những âm mưu thâm độc của kẻ thù, bộ mặt lừa bịp giả danh cách mạng của các phần tử phản động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng của nhân dân để thực hiện mưu đồ của đế quốc, đồng thời kiên trì giải thích, giáo dục, vận động, thuyết phục, giác ngộ bà con tín đồ thấy được việc làm cách mạng là chính nghĩa, lôi kéo, hướng dẫn họ đi theo con đường đấu tranh chung của dân tộc, tập hợp, tổ chức họ bước vào hàng ngũ của những người yêu nước cùng chống kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân xâm lược và bè lũ tay sai của chúng giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Do có đường lối chính sách mềm dẻo, khéo léo, tế nhị, những chủ trương đúng đắn, Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc nên đã thu hút đông đảo tín đồ Hòa Hảo nhất là lực lượng thanh niên tích cực tham gia vào các phong trào đấu tranh của đồng bào trong toàn tỉnh hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở tỉnh nhà.
Vùng Tân Châu, Châu Đốc là những tiền đồn hiểm trở trấn giữ cửa ngõ quan trọng của An Giang và Tây Nam của Tổ quốc “Vùng Châu Đốc Kinh Vĩnh Tế đúng là vùng biên cương hiểm trở vừa sản xuất vừa phải đối phó với ngoại xâm, những người khẩn hoang đã kiên trì bám đất không rời, tinh thần yêu nước, cần cù bộc lộ rõ ràng” (Sơn Nam). Ngay từ những buổi đầu xây cơ dựng nghiệp, các cư dân thường xuyên phải đương đầu với mọi phong ba bão tố, dịch bệnh do thiên nhiên gây ra, đồng thời họ cũng liên tục bị đe dọa bởi bọn phong kiến Xiêm, Miên thực hiện mưu đồ thôn tính vùng đất trù phú quan trọng này. Vào năm 80 của thế kỷ XVIII, nhân cơ hội tên Chúa Nguyễn Ánh chạy sang cầu viện Vua Xiêm phái hai cháu là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 5 vạn quân sang xâm lược nước ta qua 2 cửa ngõ Tân Châu và Hồng Ngự. Nhưng với thiên tài quân sự của mình, người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn đập tan đạo quân Xiêm xâm lược. Chiến công nổi bật nhất của quân dân An Giang dưới thời phong kiến là đánh bại cuộc xâm lược của liên quân Xiêm - Miên tại Cù Hu tức Cù lao Giêng (Chợ Mới) vào năm 1837 do Đốc Binh Vàng và Chưởng Binh Lễ chỉ huy.
Địa danh Cù lao Ông Chưởng do nhân dân địa phương đặt để tưởng nhớ Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, ông còn nhiều công lao dẹp giặc giữ yên bờ cõi An Giang nói riêng và của Tổ quốc nói chung vào thế kỷ XVIII.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX quân Xiêm liên tiếp tràn qua biên giới đánh phá vùng Hà Tiên, Tân Châu, Châu Đốc… gây cho đồng bào ta nhiều thiệt hại đáng kể về người và của, nhưng bọn xâm lược bị lực lượng nghĩa quân vùng An Giang kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi quân giặc.
*
*      *
Giữa thế kỷ XIX, tức vào năm 1858 thực dân Pháp tấn công vào cửa Đà Nẵng, chính thức nổ súng xâm lược nước ta, triều đình phong kiến nhà Nguyễn chống cự yếu ớt, từng bước nhượng bộ đầu hàng để cuối cùng làm tay sai cho bọn Pháp xâm lược. Sau khi cắt 3 tỉnh miền Đông cho kẻ thù, đến năm 1867 vua quan nhà Nguyễn dâng luôn 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) cho thực dân Pháp, lúc này thực sự công nhận Nam Kỳ Lục tỉnh thuộc sự đô hộ của thực dân Pháp (là đất thuộc địa) nhưng trên thực tế nhân dân vùng Lục tỉnh không khuất phục, cam phận làm nô lệ cho ngoại bang, hàng chục cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục, đều khắp từ phong trào đấu tranh tự phát của nhân dân do các văn thân sĩ phu yêu nước lãnh đạo.
Tháng 6 năm 1867 Pháp đánh chiếm thành Châu Đốc, lập tức nhân dân đứng lên cầm vũ khí chống trả quyết liệt chiến đấu bảo vệ quê hương làng xóm của mình, tiêu biểu có phong trào của Quản Cơ Thành (Trần Văn Thành) lấy khu Lang Linh (Tịnh Biên) làm căn cứ phối hợp với nghĩa quân Campuchia do Hoàng thân Sivôtha lãnh đạo cùng chống Pháp. Đến tháng 3 năm 1873 kẻ thù điều một lực lượng lớn do tên tỉnh trưởng Long Xuyên M. Puech cầm đầu tiến vào căn cứ, Trần Văn Thành hy sinh, nghĩa quân tan rã. Vùng Bảy Núi còn là nơi qui tụ các lực lượng nghĩa quân của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Trương Quyền… thành lập nên các căn cứ kháng chiến dọc theo tuyến biên giới, làm cho thực dân Pháp nhiều phen lao đao và vất vả lắm chúng mới đàn áp được các cuộc khởi nghĩa này. Tuy nhiên, các văn thân sĩ phu yêu nước và nghĩa quân tập hợp nhau lại hoạt động núp dưới hình thức tôn giáo, họ lập làng Ân Định ở Ba Chúc (Tri Tôn) và lập ra đạo “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” (Tứ Ân: ân trời, ân đất, ân vua, ân cha mẹ - Lịch sử Đảng bộ An Giang xuất bản 1986, Tr. 24) chống lại bọn vong bản theo Tây. Đến năm 1885 cùng với nghĩa quân Campuchia làng Ân Định nổi dậy khởi nghĩa nhưng bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, phong trào tan rã dần.

Từ buổi sơ khai đến lập nghiệp cho đến khi thực dân Pháp đem quân đến xâm chiếm vùng Long Xuyên - Châu Đốc, nhân dân An Giang vẫn bám đất giữ làng kiên cường đánh trả tất cả các cuộc tấn công xâm lược của các thế lực phong kiến Xiêm - Miên và anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp bảo vệ cuộc sống yên lành tự do cho quê hương làng xóm, bảo vệ từng thửa ruộng, mảnh vườn mà cha ông những bậc tiền nhân đã có công tạo dựng. Chính tình cảm gắn bó với quê hương, làng xóm, nơi chôn nhau cắt rốn là cơ sở hình thành nên lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân An Giang, nên họ không dễ dàng chấp nhận bất cứ sự cai trị nào của ngoại bang. Tình yêu thương lòng nhân ái giúp đỡ lẫn nhau của những ngày đầu tiên tạo lập cơ nghiệp được nhân dân An Giang nâng lên thành truyền thống đoàn kết nhất trí, truyền thống này được thể hiện rõ nhất qua các cuộc chiến đấu chống thiên tai dịch bệnh, đặc biệt là từ khi có Đảng lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nổ ra liên tục đều khăp bằng nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú đa dạng. Qua phong trào đấu tranh chung đó của nhân dân trong tỉnh, đã nổi bật lên vai trò vị trí của tầng lớp thanh niên, tham gia cách mạng với tư cách là một lực lượng trụ cột đông đảo trong phong trào yêu nước ở địa phương.
Cuối những thập niên hai mươi của thế kỷ này, phong trào yêu nước vùng Long Xuyên - Châu Đốc đang bế tắc, khủng hoảng về giai cấp tiên phong để lãnh đạo cách mạng và thiếu đường lối đúng đắn. Yêu cầu bức thiết lúc này là phải thoát khỏi ý thức hệ phong kiến đã lạc hậu của những người lãnh đạo phong trào yêu nước, đòi hỏi phải có một tư tưởng mới mang tính thời đại, mới có khả năng đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn.

PHẦN THỨ HAI

THANH NIÊN AN GIANG ĐẤU TRANH ANH DŨNG DƯỚI NGỌN CỜ CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG 1930 - 1975
CHƯƠNG I: THANH NIÊN AN GIANG LÀM LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở TỈNH NHÀ 1930 - 1975


TÌNH HÌNH LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC TRONG NHỮNG
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX CHI BỘ ĐẢNG ĐẦU TIÊN RA ĐỜI


Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) giữa các nước đế quốc gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, đặc biệt là tác động rất lớn đến các nước thuộc địa, vì bọn đế quốc luôn luôn xem các thuộc địa là “dạ dày” của chúng, là nguồn nuôi sống các tập đoàn thống trị ở chính quốc. Để bù đắp cho những hao hụt tổn thất lớn do hậu quả của cuộc chiến tranh đế quốc gây ra thực dân Pháp ra sức tăng cường vơ vét các nước thuộc địa mà trọng điểm là vùng Đông Dương giàu có về tài nguyên. Sau khi chiến tranh kết thúc chúng tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai.
Vùng Long Xuyên - Châu Đốc là một trong những vựa lúa của Nam Bộ nên thực dân Pháp tập trung hóa ruộng đất, tiến hành đào nhiều kênh rạch, đường sá, khuyến khích khẩn hoang để mở rộng diện tích canh tác và trao đổi mua bán ruộng đất. Đến năm 1930 bọn Pháp chiếm khoảng một phần trăm (1%) diện tích ruộng đất toàn tỉnh để xây dựng những đồn điền, phát canh thu tô giống như bọn địa chủ bản xứ “chành” lúa lớn của các công ty lúa gạo của Pháp và Hoa kiều lần lượt ra đời ở Long Xuyên - Châu Đốc đã trở thành công cụ đắc lực cho chính sách khai thác thuộc địa, vơ vét lúa gạo của thực dân Pháp, chúng giành độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam.
Hoạt động của các ngành tiểu thủ công nghiệp bị các công ty Tư bản Pháp khống chế chèn ép về mọi mặt, chúng hầu như giành độc quyền khai thác các hầm đá ở núi Sập, những địa phương có xưởng sản xuất tơ lụa Tân Châu, Chợ Mới đều lệ thuộc công ty tơ tằm của Pháp đặt ở Nam Vang về giá cả và nguyên liệu, chính quyền thực dân còn giao cho các nhà thầu độc quyền khai thác đánh bắt thủy sản, đây là một trong những nghề khá phát triển ở địa phương, các cơ sở sản xuất gạch ngói, xưởng mọc, nhà máy xay xát lúa gạo… đa số sản xuất chủ yếu bằng thủ công. Nhà cầm quyền còn đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý và dã man như thuế thân (sưu), thuế rượu, thuế muối… bắt người dân è cổ gánh chịu, hàng trăm người dân lương thiện, nhất là nông dân còn phải làm nhiều loại tạp dịch khác (đi phu) như đào kinh, đắp đường và làm công quả cho bọn địa chủ phong kiến. Nhìn chung đời sống của người nông dân hết sức bấp bênh cơ cực, bệnh tật, nghèo đói luôn rình rập đe dọa đến tính mạng và sự yên lành của gia đình họ, lam lũ một nắng hai sương, sự cần cù siêng năng đã không thể giúp họ tự vượt qua cuộc sống lầm than tủi cực của người dân nô lệ.
Suốt năm cày mướn cấy thuê
Lúa đi đâu mất tiền về tay ai
Còn bề chú cả nhà đói rách
Chủ chú đành ngoảnh mặt làm ngơ
Lúa tiền vay một trả hai
Còng lưng làm mọi cả đời không cơm.
(Thơ Nguyễn Quang Diệu 1928 - 1929 “Đánh thức dân cày Nam Kỳ”)
Bộ máy thống trị của thực dân Pháp ra sức tuyên truyền lừa bịp cho cái gọi là “công cuộc khai hóa” nhằm che đậy cho bản chất xâm lược vơ vét thuộc địa của chúng. Mỗi hệ thống đường sá, cầu cống, kinh rạch cũng như một số công trình xã hội khác ra đời cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ đắc lực cho chính sách thống trị và khai thác tài nguyên thiên nhiên của chúng, thế mà chúng lại rêu rao đó là “phát triển dân sinh”.
Ngoài những chức vụ quan trọng ở cấp tỉnh do bọn Pháp trực tiếp nắm giữ, chúng còn lập ra các tổ chức “dân cư” của người bản xứ như Hội đồng quản hạt, Hội đồng tỉnh, các Hội tương tế… đây chỉ là các tổ chức mang tính hình thức, thực chất Pháp sử dụng bọn này làm tay sai đắc lực cho bộ máy thống trị của chúng ở địa phương, bọn quan lại cường hào còn gieo biết bao tai họa cho cuộc sống người dân lương thiện, ngày đêm chúng lùng sục, bắt bớ đánh đập tù đày, những ai mà chúng tình nghi làm “quốc sự”, gây ra bầu không khí chính trị căng thẳng, ngột ngạt khó thở ở khắp nơi. Để thực hiện chính sách “chia để trị” thực dân Pháp tìm mọi cách tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, kích động ý thức dân tộc hẹp hòi, chia rẽ khối đoàn kết giữa người Việt và người Khơmer như ở Tri Tôn, Tịnh Biên, gây nên sự hiềm tị giữa hai dân tộc anh em vốn đã có sự gắn bó lâu đời trong suốt quá trình dựng đất và giữ đất ở vùng Long Xuyên - Châu Đốc.
Đời sống văn hóa tinh thần dưới thời Pháp thuộc cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Long Xuyên - Châu Đốc không có một trường Trung học nào, cuối những năm 1920 cả tỉnh chỉ có khoảng hai trăm giáo viên từ vỡ lòng đến lớp nhất (tức lớp 5 ngày nay theo số liệu của cuốn lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang 1927 - 1945 xuất bản năm 1946, Tr. 30 - 31). Chỉ con em những gia đình khá giả, quan chức mới có điều kiện đến trường, còn đại bộ phận con em những người lao động, đặc biệt là con em những người nông dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, phải cam chịu trong cảnh đói nghèo, dốt nát. Trong khi đó, mạng lưới y tế yếu kém, điều kiện chăm sóc chữa bệnh cho nhân dân hầu như chẳng có gì, toàn tỉnh chỉ có khoảng mười trạm xá, hộ sinh, nhân dân trị bệnh chủ yếu bằng thuốc nam, hoặc thầy bùa, thầy pháp. Bên cạnh đó, để ru ngủ nhân dân, đặc biệt là đối với giới trẻ thực dân Pháp tổ chức mua bán sử dụng thuốc phiện công khai, khuyến khích người dân uống rượu do chúng độc quyền sản xuất, những hủ tục mê tín, dị đoan dưới chế độ phong kiến được tiếp tục duy trì, mở mang nhiều chùa chiền, am cốc… tập trung nhiều nhất ở vùng Bảy Núi và Châu Đốc. Ngoài Đạo Phật và Cao Đài, Thiên Chúa giáo cũng ảnh hưởng không ít đến sinh hoạt tinh thần của nhân dân, các cha xứ trở thành những tên địa chủ lớn chiếm hữu nhiều ruộng đất (khoảng 10.000 ha) để phát canh thu tô.
Do bị tác động về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nên cuối những năm 20 của thế kỷ XX, tình hình giai cấp ở Long Xuyên - Châu Đốc có sự phân hóa rõ rệt.
Giai cấp địa chủ hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể chia làm 2 loại chủ yếu: một số địa chủ lớn tiếp tục làm tay sai cho đế quốc có nhiều đặc quyền đặc lợi, quyền lợi chính trị của bọn này gắn chặt với quyền lợi kinh tế, đây là chỗ dựa vững chắc của chế độ thực dân nửa phong kiến ở cơ sở. Số địa chủ vừa và nhỏ bị đế quốc và địa chủ lớn chèn ép, họ chỉ bóc lột đơn thuần về kinh tế, họ không hợp tác về chính trị với kẻ thù, ít nhiều còn có mối quan hệ ràng buộc với nông dân.
Số địa chủ Long Xuyên - Châu Đốc có từ 50 ha ruộng đất trở lên chiếm gần 5% dân số nhưng lại nắm trong tay hơn 50% diện tích ruộng đất canh tác, tập trung phần lớn ở Long Xuyên.
Giai cấp nông dân là tầng lớp đông đảo nhất, là người bì áp bức bóc lột nặng nề nhất. Long Xuyên - Châu Đốc nói riêng và Nam Bộ nói chung là địa bàn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên chính quyền thực dân tập trung vào đối tượng là nông dân để ra sức vơ vét khai thác lúa gạo, bóc lột bằng thuế má, lao dịch. Thuế thân là một gánh nặng đè lên đầu người nông dân, đây là loại thế đánh vào đầu người tùy theo giàu nghèo có mức thu nhập cao thấp khác nhau, hàng năm họ phải đóng nộp từ 4 - 5 đồng/người (tương đương 10 - 15 giạ lúa). Đa số người dân không có tiền hoặc không đủ tiền để đóng thuế thân nên phải sống “lậu” dẫn đến tệ trạng chính quyền vây ráp, truy lùng bắt bớ những người “trốn xâu lậu thuế”, đời sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân hết sức bấp bênh tai họa như đám mây u ám đang luôn chờ chực có thể ập xuống gia đình họ bất cứ lúc nào. Giai cấp nông dân đã từng đi theo ngọn cờ cứu nước của các sĩ phu trước đó, họ đã vùng lên đánh trả quyết liệt chống lại bọn đế quốc xâm lược. Họ là lực lượng cách mạng hùng hậu nhất, đông đảo nhất, khi Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc ra đời họ lập tức đi theo và chiến đấu dưới ngọn cờ độc lập dân tộc do giai cấp vô sản lãnh đạo.
Tầng lớp tiểu tư sản ra đời phần lớn trong quá trình thực dân Pháp khai thác thuộc địa đối với địa phương, đây là tầng lớp có vốn văn hóa nhất định, có kiến thức khá rộng nên khá nhạy bén với thời cuộc, là tầng lớp trung gian, nhưng họ nhanh chóng tiếp thu được các tư tưởng mới, tiến bộ để truyền bá vào phong trào yêu nước của nhân dân, ở họ ý thức dân tộc, lòng yêu nước khá đậm nét, họ có vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở tỉnh nhà.
Do nền sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp nên dần dần hình thành tầng lớp thợ thủ công với những nghề cổ truyền khá nổi tiếng như ươm tơ, dệt lụa ở Tân Châu, nghề mộc ở Chợ Mới, đa số người thợ thủ công làm công nhân cho bọn địa chủ trong các xưởng trại, họ có tay nghề cao, sống tương đối tập trung, là người lao động làm thuê bị bọn chủ bóc lột, tầng lớp thợ thủ công là lực lượng cách mạng tích cực và tiến bộ ở nông thôn lúc bấy giờ.
*
*      *
Nửa cuối những năm 1920, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ ở các tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước làm nòng cốt, mở đầu là tiếng bom Sa Diện (do Phạm Hồng Thái - một thanh niên yêu nước người Nghệ Tĩnh ám sát tên toàn quyền Merlyn khi hắn ghé thăm Trung Quốc) đánh vào tên toàn quyền Merlyn, đánh dấu sự bùng dậy của phong trào yêu nước Việt Nam sau một thời gian tạm lắng xuống, tiếp theo đó là hàng loạt các Đảng phái chính trị ra đời: Đảng Phục Việt (1925) ở Trung Kỳ, Đảng Thanh niên (1920) ở Nam Kỳ, Việt Nam Quốc dân Đảng (1927) ở Bắc Kỳ… các tầng lớp trí thức tiểu tư sản, tư sản tranh giành quyền ảnh hưởng trong phong trào yêu nước. Phong trào đòi thả cụ Nguyễn An Ninh, đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh… diễn ra liên tục trong suốt những năm 1924 - 1926 lan rộng khắp nhân dân vùng Long Xuyên - Châu Đốc, nhất là trong giới giáo viên - học sinh hưởng ứng tích cực với phong trào cả nước. Qua cuộc đấu tranh của tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước xuất hiện nhiều cá nhân điển hình nổi bật ở tỉnh nhà, trong đó có thầy giáo Châu Văn Liêm là người có uy tin lớn trong giới trí thức.
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, Châu Văn Liêm sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của cha anh, khi còn là sinh viên anh đã từng đấu tranh chống những luật lệ thi cử bất công của Nha học chính. Cuối năm 1924 sau khi ra trường anh được phân công về dạy ở trường nữ sinh Long Xuyên, khí chất của người thanh niên trí thức yêu nước ngày càng bộc lộ rõ nét hơn trong anh. Dạy học ở thị xã Long Xuyên anh tiếp tục đấu tranh chống những bất công trong giảng dạy và thi cử với tên Đốc học, đồng thời tuyên truyền giáo dục cho tầng lớp trí thức trong giáo viên và học sinh tư tưởng tự do dân chủ, ý thức dân tộc. Thấy ở anh có “đầu ốc chống Pháp” bọn chúng đổi anh về dạy ở trường sơ học Chợ Thủ - Chợ Mới.
Được giáo viên và nhân dân trong vùng tín nhiệm. Châu Văn Liêm được cử đi dự lễ tang cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn vào tháng 3 năm 1926. Khi trở về địa phương anh cùng với những bạn bè thân thiết tổ chức lễ truy điệu cụ Phan tại Mỹ Luông - Long Điền (Chợ Mới) nhằm khơi dậy và kêu gọi tinh thần yêu nước của đồng bào trong vùng. Cùng lúc này, học sinh Trường Trung học Cần Thơ bãi khóa, nhiều học sinh có tư tưởng tiến bộ bị đuổi học, trong đó có các anh Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Cung, Trần Văn Thạnh trở về quê tìm đến anh Châu Văn Liêm thành lập nên nhóm thanh niên trí thức yêu nước hoạt động ở vùng Chợ Mới.
Do yêu cầu phát triển phong trào cách mạng trong khu vực, Châu Văn Liêm cùng với một số giáo viên học sinh yêu nước lập ra tổ chức Việt Nam Phục quốc Hội vào cuối năm 1926 tại Ô Môn (Cần Thơ) nhằm tập hợp lực lượng yêu nước cả vùng Cần Thơ - Sa Đéc - Long Xuyên.
Trong khi đó ở Kiến An thuộc quận Chợ Mới, một nhóm thanh niên yêu nước khác như Lê Triệu Kiết, Lê Văn Khiết chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nguyễn An Ninh (là một người hoạt động phong trào yêu nước bị thực dân Pháp bắt giam) tập hợp thanh niên lại đọc các sách tiến bộ, thông báo tình hình trong nước và trên thế giới, tổ chức bí mật, khéo léo trong một tiệm thuốc bắc Bảo An Đường và Bảo Hòa Đường (hai tiệm thuốc bắc này tại thị xã Long Xuyên). Ở Long Xuyên một số giáo chức tiến bộ lợi dụng “Hội tương trợ giáo chức” do Pháp lập ra hoạt động nhằm bênh vực quyền lợi giáo viên - học sinh người bản xứ.
Tháng 8 năm 1927 được sự giúp đỡ của Ông Nguyễn Văn Côn (là một nhà yêu nước trong phong trào Đông Du, sau đó được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên (2/1928) là Ủy viên Kỳ Bộ Nam Kỳ, Tr. 41), chín thanh niên của “Việt Nam Phục quốc hội” được sang Trung Quốc học tập, những thanh niên này được dự lớp tập huấn chính trị do Tổng bộ Thanh niên tổ chức trong đó có Trần Văn Thạnh ở Chợ Mới.
Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu - Trung Quốc, đây là một tổ chức của những thanh niên trí thức yêu nước đang hoạt động ở nước ngoài được đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện trang bị cho họ tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Giữa năm 1927, Kỳ Bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Nam Kỳ được thành lập. Đến tháng 8 năm 1927 đồng chí Nguyễn Ngọc Ba là cán bộ Kỳ Bộ Nam Kỳ (tức giáo sinh) về Long Xuyên hoạt động, lấy trường Trần Minh (nay là trường Mỹ Long B - Long Xuyên) để dạy học và xây dựng cơ sở, đồng thời tuyên bố phổ biến đường lối cơ bản của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, chọn những thanh niên tích cực đang hoạt động trong phong trào yêu nước kết nạp vào tổ chức Thanh niên như Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm vào năm 1927.
Cuối năm 1927 Chi bộ Thanh niên đầu tiên ra đời ở Long Xuyên - Châu Đốc tại xã Long Điền (Chợ Mới) gồm 3 đồng chí: Châu Văn Liêm, Bùi Trung Phẩm và Lâm Văn Cẩn, do đồng chí Châu Văn Liêm phụ trách. Tháng 2 năm 1928 Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Long Xuyên được thành lập sau khi một số đồng chí mãn khóa học ở Quảng Châu - Trung Quốc, được phân công về lại Long Xuyên để hoạt động, xây dựng và phát triển tổ chức do đồng chí Châu Văn Liêm làm Bí thư.
Một thời gian ngắn sau các Chi bộ và tổ chức Thanh niên phát triển rộng ra các vùng tập trung đông dân cư, các đầu mối giao thông thuận lợi, từ đó hình thành các tổ chức quần chúng nhằm tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia bằng nhiều hình thức phong phú như Hội thể thao, Ban cứu tế, Hội nhà giáng, Hội cạo gió, Nhóm đọc báo, Hội lợp nhà, Hội tương tế hữu ái, Nông hội, Công hội… hình thành đều khắp từ nông thôn đến thành thị, hoạt động công khai, hợp pháp.
Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Long Xuyên còn mở khóa huấn luyện lấy nội dung tác phẩm “Đường kách mệnh” (những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu tập hợp lại thành tác phẩm “Đường Cách Mệnh”) làm tài liệu giảng dạy chủ yếu cho các Hội viên. Để tránh sự theo dõi của bọn mật thám Pháp, giữ bí mật các khóa học, cuốn “Đường kách mệnh” được phổ biến ở Chợ Mới dưới dạng kinh Phật nhưng bên trong là nội dung tác phẩm, nhằm trang bị cho quần chúng tiến bộ đa số là lực lượng thanh niên bước đầu tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo dục, giác ngộ họ, hướng dẫn vạch đường cho họ đấu tranh theo con đường cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Hưởng ứng phong trào “Vô sản hóa” của Tổng bộ Thanh niên, Tỉnh bộ Long Xuyên chủ trương đưa các hội viên sau khi dự thảo các lớp huấn luyện đi vào nông thôn hoạt động trong phong trào nông dân và thợ thủ công cùng các tầng lớp nhân dân vô sản, tuyên truyền hướng dẫn phong trào yêu nước theo lập trường của giai cấp vô sản, đồng thời qua đó, các hội viên tự rèn luyện mình trong thực tiễn. Ngoài ra, Chi bộ Long Xuyên - Lấp Vò ra đời tờ nguyệt san “Tiếng gọi dân cày” vạch trần tội ác của bọn thống trị, và lãnh đạo cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp của giáo chức, học sinh, trí thức dưới danh nghĩa “tương trợ giáo chức”, tiêu biểu là cuộc đấu tranh đòi bọn cầm quyền phải đưa đồng chí Châu Văn Liêm trở về dạy học ở Long Xuyên, buộc địch phải nhượng bộ.
Tháng 2 năm 1929 đồng chí Châu Văn Liêm được rút về Sài Gòn bổ sung vào Ban thường vụ Kỳ Bộ Nam kỳ, đồng chí Nguyễn Văn Cưng lên thay làm Bí thư Tỉnh bộ Long Xuyên.
*
*      *
Tỉnh bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tuy chưa xây dựng được hệ thống tổ chức đều khắp vùng Long Xuyên - Châu Đốc, nhưng ảnh hưởng của nó lan rộng trở thành ngọn đuốc soi đường, là vũ khí hướng dẫn tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, đáp ứng được các yêu cầu cấp thiết trong một giai đoạn lịch sử nhất định: giai đoạn trước khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời.
Tỉnh bộ Thanh niên mà nòng cốt là lực lượng thanh niên trí thức yêu nước đóng vai trò rất lớn trong việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân lao động ở địa phương, nó góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán lãnh đạo đầu tiên cho Đảng bộ sau này. Sự ra đời và hoạt động của tổ chức Thanh niên đã chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân theo con đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin ở vùng Long Xuyên - Châu Đốc. Tuy nhiên, Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội chưa phải là một chính Đảng của giai cấp vô sản, nó chỉ là một tổ chức tiền thân của Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Long Xuyên - Châu Đốc.
Sự phát triển của cách mạng Việt Nam nói chung và khu vực Long Xuyên - Châu Đốc nói riêng đã lên đến đỉnh cao, đòi hỏi phải có một chính Đảng có đầy đủ năng lực và uy tín để thống nhất lãnh đạo cách mạng. Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội tuy phát triển mạnh nhưng không đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của phong trào. Cuối năm 1929 đầu năm 1930 xuất hiện 3 tổ chức cộng sản ở 3 Kỳ, sự song song tồn tại của 3 tổ chức cộng sản ảnh hưởng không tốt đến cách mạng Việt Nam, việc hợp nhất các tổ chức cộng sản lại lập ra một Đảng cách mạng duy nhất để lãnh đạo cách mạng là yêu cầu cần thiết hơn bao giờ hết trong lúc này.
Từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản lại do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì diễn ra tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc) quyết định: thống nhất 3 tổ chức cộng sản lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặc lịch sử của cách mạng Việt Nam, từ đây cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản.
Tháng 3 năm 1930 Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng vùng Hậu Giang chuyển thành Đặc ủy Cộng sản Việt Nam vùng Hậu Giang, sau đó Đặc ủy cử cán bộ về các tỉnh miền Tây để xây dựng hệ thống tổ chức Đảng.
Cuối tháng 3 năm 1930 các đồng chí lãnh đạo Tỉnh bộ Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc trở thành những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên trong tỉnh và hình thành Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Long Xuyên lấy địa bàn huyện Chợ Mới làm trung tâm xây dựng và phát triển tổ chức, từ đó thành lập các Chi bộ Đảng cơ sở cho cả vùng. Đến tháng 4 năm 1930 Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Long Xuyên - Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới).
Chào mừng sự kiện lịch sử vĩ đại đó, Chi bộ cử một thanh niên trung kiên của Đảng (Ông Lê Văn Đỏ - người treo cờ Đảng trên cột dây thép) treo lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép ở Long Thuận - Long Điền - Chợ Mới.
Việc chuyển Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội Long Xuyên - Châu Đốc thành Tỉnh bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu bước ngoặt căn bản trong lịch sử cách mạng ở địa phương, từ đây những người lao khổ vùng lên đấu tranh theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại do Lênin vạch ra được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam, cũng từ đấy ngọn cờ độc lập dân tộc được giương cao cùng với ngọn cờ Chủ nghĩa xã hội, hai ngọn cờ này xuyên suốt trong quá trình đấu tranh cách mạng của tỉnh nhà.
Tỉnh Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc ra đời nói lên sự đấu tranh liên tục bền bỉ của những người yêu nước theo lập trường Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội đóng vai trò có tính chất quyết định. Chính họ những thanh niên yêu nước đã trở thành những chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đầu tiên của tỉnh. Họ vừa là những người lãnh đạo vừa là những người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do ở địa phương.
*
*      *

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG THANH NIÊN LONG XUYÊN -
CHÂU ĐỐC ĐI TIÊN PHONG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH
CHÍNH QUYỀN 1930 - 1945

CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1931, SỰ RA ĐỜI CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Ở LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC
Vào những năm 1929 - 1933, Chủ nghĩa tư bản thế giới lâm vào cuộc tổng khủng hoảng kinh tế, hậu quả của nó tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Để bù đắp những hao hụt tổn thất do tổng khủng hoảng gây ra, các nước đế quốc trút mọi gánh nặng lên đầu nhân dân các nước thuộc địa. Nước ta chịu chung số phận đó.
Thực dân Pháp ở Đông Dương ra sức tăng cường vơ vét bóc lột tài nguyên và nhân lực nhiều hơn nữa, trong khi ấy do tác động của cuộc tổng khủng hoảng nên sản xuất trong nước bị đình đốn, công nhân thất nghiệp, giá gạo trong nước (đây là mặt hàng chủ lực của Việt Nam) tụt giảm nghiêm trọng, các hàng hóa nhập khẩu tăng lên rất cao. Ở Long Xuyên - Châu Đốc gạo từ 1 đồng/giạ giảm xuống còn 2 cắc/giạ, thợ thủ công thất nghiệp, ngày công của người làm mướn hạ xuống còn 1 đến 1,5 cắc/ngày. Nhưng tàn nhẫn vô nhân đạo nhất vẫn là thuế thân, thứ thuế đánh vào đầu người dân khi đến tuổi trưởng thành. Người nghèo trước đó đóng 4 - 5 đồng/người nay phải đóng 6 - 7 đồng/người/năm. Đại đa số người dân lao động không đủ tiền đóng thuế nên đội quân “trốn xâu, lậu thuế” ngày càng tăng, buộc họ phải rời bỏ quê hương xứ sở đi nơi khác làm ăn sinh sống trước cảnh lùng sục, bắt bớ diễn ra khắp thôn xóm của bọn cường hào ác bá ở các địa phương.
Tiểu thương, tiểu chủ bị phá sản, đời sống công chức lớp dưới chẳng khấm khá gì hơn người nông dân. Sự bóc lột tận xương tủy của bọn thực dân phong kiến đã tác động đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội, sức lực của người dân bị chúng vắt đến cùng kiệt, họ bị đẩy đến con đường đấu tranh một mất một còn với kẻ thù giành lại quyền sống cho bản thân và gia đình mình.
Trong hoàn cảnh đó Đảng Cộng sản ra đời, Đảng quyết định lấy ngày 1/5/1930 làm cái mốc đấu tranh cho đến cuối năm 1931. Chấp hành Nghị quyết của Trung ương tháng 4 năm 1930 Xứ ủy Nam Kỳ phổ biến triển khai kế hoạch đấu tranh cho Đặc ủy Hậu Giang tổ chức và lãnh đạo quần chúng đòi những quyền lợi thiết thực trước mắt như hoãn đóng thuế, đòi giảm tô, giảm tức, chống bọn cường hào ức hiếp đàn áp nhân dân.
Nhận thấy vùng Chợ Mới, Cao Lãnh là nơi có tổ chức mạnh cư dân đông đúc, ở đây mâu thuẫn giữa nông dân, thợ thủ công với bọn thống trị hết sức gay gắt, đây là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, nên Đặc ủy Hậu Giang trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh của quần chúng từ đó rút ra kinh nghiệm phát động phong trào ra các tỉnh miền Tây.
Ngày 1/5/1930 nổ ra cuộc biểu tình của hàng ngàn nông dân thuộc Phong Thạnh Thương (Chợ Mới) kéo đến nhà tên địa chủ kiêm cai tổng Cần đòi giảm tô, giảm tức, hủy bỏ cống lễ giảm thuế thân, hoãn thuế thân 3 tháng, đòi những người bị bắt vì thiếu thuế thân… hoảng sợ trước lực lượng to lớn của quần chúng, tên cai tổng buộc phải chấp nhận những yêu sách của nhân dân. Cuộc đấu tranh đầu tiên của nhân dân chủ yếu là nông dân vùng Long Xuyên - Châu Đốc dưới sự lãnh đạo của Đảng giành được thắng lợi, bọn tay sai của địch ở địa phương hoang mang buộc chúng phải cầu cứu lên quận và tỉnh.
Phấn khởi với những thắng lợi vừa giành được, sáng sớm ngày 9/5/1930 gần 7.000 người từ các xã trong quận tiến hành cuộc đấu tranh lần thứ hai, đoàn biểu tình tập trung ở khu vực Chợ Thủ, Doi Lửa (Long Điền - Chợ Mới) kéo về hướng Dinh quận, dẫn đầu là lực lượng thanh niên nam nữ gồm các khẩu hiệu, biểu ngữ với nội dung: hoãn thu thuế thân 3 tháng, thả những người bị bắt trong cuộc biểu tình trước đó, đòi nhà chức trách không được ức hiếp đàn áp nhân dân, không được khám xét, bắt bớ người dân vô tội, giảm thuế công điền công thổ… trên đường tuần hành đoàn biểu tình hô vang các khẩu hiệu hòa lẫn với tiếng chuông, trống, mõ vang rền… áp đảo tinh thần bọn địch. Trước khí thế sôi sục cách mạng của quần chúng nhân dân tên chủ quận buộc phải chấp nhận những yêu sách chính đáng đó. Cuộc tấn công vào dinh lũy kẻ thù cấp quận giành được thắng lợi vang dội làm nức lòng nhân dân trong tỉnh.
Sau đó cờ Đảng, truyền đơn biểu ngữ xuất hiện rộng khắp các địa phương khác. Địch một mặt xoa diệu tình hình bằng cách thỏa mãn một số yêu sách của nhân dân nhưng mặt khác chúng tìm mọi thủ đoạn, âm mưu để đối phó với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, như tăng cường lực lượng quân sự ở những vùng trọng yếu, dân vệ và hiến bình được tăng cường cho các đồn bốt.
Phát huy những thắng lợi đã đạt được. Đặc ủy Hậu Giang quyết định phải liên tục tấn công địch. Một lần nữa Chợ Mới được chọn làm trọng điểm đấu tranh của dân trong vùng.
Từ 4 giờ sáng ngày 28/5/1930 nhân dân các xã trong quận Chợ Mới kéo về tập trung tại khu vực Dây Thép - Chợ Thủ - Bến đò Doi Lửa, cùng lúc đó đồng bào các xã thuộc Cao Lãnh tiến sang ngày càng đông. Đoàn biểu tình với hàng ngũ chỉnh tề, trật tự nhằm hướng quận lỵ tiến về, đi đến đâu đoàn biểu tình cũng nhận được sự gia nhập của đồng bào hai bên đường nên số lượng đoàn biểu tình lên đến hàng chục ngàn người. Cánh thứ hai từ Cù lao Ông Chưởng và một số xã lân cận của Tân Châu kéo sang tập trung bao quanh quận lỵ cùng phối hợp với cánh Chợ Mới. Trước khí thế sôi nổi, lực lượng hùng hậu của quần chúng bọn tề xã hốt hoảng bỏ chạy, chính quyền địch ở địa phương tan rã. Khẩu hiệu đấu tranh lần này mang nội dung mới như tăng lương cho thợ thuyền và binh lính… Tuy nhiên do kế hoạch biểu tình bị lộ địch biết trước nên chủ động đối phó, tên NADAUT - Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, tên MONNIER - Hiến binh đặc biệt Nam Kỳ và tên WOLF - Tỉnh trưởng Long Xuyên đã tiếp cùng binh lính có mặt từ sáng sớm tại quận lỵ, bọn địch bắn xả vào đoàn biểu tình, một số người chết, hàng trăm người khác bị thương. Kẻ thù đã dùng bạo lực phản cách mạng để đàn áp cuộc đấu tranh tay không của quần chúng, để tránh tổn thất lớn. Ban lãnh đạo quyết định giải tán cuộc biểu tình.
Trước tình hình kẻ thù đàn áp khốc liệt, Đặc ủy và Tỉnh ủy Long Xuyên chủ trương cho các Đảng viên bị lộ chuyển vùng hoạt động về những địa phương phong trào ít phát triển hoặc nơi chưa có phong trào, kẻ thù ít dòm ngó. Một bộ phận ở lại tiếp tục củng cố tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng nhiều hình thức và yêu cầu nội dung mới cho thích hợp như ngày 13/7/1930 tổ chức lễ truy điệu những đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong cuộc biểu tình ngày 28/5 tại cánh đồng Long Điền - Long Kiến - Chợ Mới, hoặc phát động lực lượng thanh niên đi rải truyền đơn, cắt dây điện tín, đốt pháo, treo cờ, dán bích chương, biểu ngữ, đắp đường… để kỷ niệm ngày chống chiến tranh đế quốc (ngày 1/8), các cuộc mít tinh, biểu tình tuần hành nhỏ diễn ra liên tục.
Lúc này phong trào cách mạng 1930 - 1931 lên đến đỉnh cao dẫn đến sự ra đời của các Xô Viết - Nghệ An - Hà Tĩnh, thực dân Pháp và bọn tay sai huy động một lực lượng đông, mạnh tiến hành “khủng bố trắng” đàn áp đẫm máu những người yêu nước ở Long Xuyên - Châu Đốc, bọn địch tung mật thám với mạng lưới dày đặc bủa đi khắp nơi đánh phá các cơ sở cách mạng và các tổ chức Đảng, hàng loạt các cán bộ Đảng viên, quần chúng trung kiên bị bắt bớ, tù đày. Tuy nhiên, số cán bộ còn lại vẫn tiếp tục lãnh đạo nhân dân chống “khủng bố trắng”, chống bắt dân đi tuần tra ban đêm, chống bắt giữ những người bị tình nghi làm quốc sự.
Cao trào cách mạng 1930 - 1931 là trận chiến đấu đầu tiên của nhân dân vùng Long Xuyên - Châu Đốc mà trung tâm là quận Chợ Mới dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đặc ủy Hậu Giang và tỉnh Đảng bộ Long Xuyên đã thu được những thắng lợi đáng kể.
Cao trào cách mạng 1930 - 1931 đã thể hiện sức mạnh và vai trò tiên phong của các tầng lớp thanh niên trong tỉnh, họ là lực lượng xung kích trong các cuộc biểu tình, người dẫn đầu các đoàn biểu tình, gương cao các biểu ngữ, hô vang các khẩu hiệu, treo cờ, in ấn, rải truyền đơn, làm liên lạc cho Đảng.
Từ những thanh niên trí thức yêu nước trong giáo chức và học sinh hoạt động trong tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội, họ chuyển thành Chi bộ Đảng đầu tiên ở Long Xuyên (1927) và trở thành những chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đầu tiên của tỉnh, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính họ tìm đến Chủ nghĩa Mác - Lênin, họ là những cộng sản ở lứa tuổi thanh niên đại diện cho Đảng bộ vừa tổ chức, lãnh đạo vừa trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh cách mạng trong tỉnh. Thời kỳ này giữa tổ chức Đảng và tổ chức Thanh niên chưa có sự phân chia rõ ràng, hòa nhập làm một nên họ dễ dàng vận động giáo dục các tầng lớp thanh niên ngoài Đảng và quần chúng trung kiên đi theo ngọn cờ cứu nước của Đảng.
Qua cao trào cách mạng 1930 - 1931 lực lượng thanh niên đã trưởng thành và được rèn luyện trong thử thách, Chi bộ Đảng Mỹ Luông kết nạp những thanh niên tiên tiến vào Đoàn và thành lập Chi bộ Thanh niên Cộng sản Đoàn vào đầu năm 1931. Vào khoảng thời gian này Đảng ra quyết định thành lập Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dươg vào ngày 26/3/1931. Sau đó hàng loạt các Chi bộ Đoàn Thanh niên lần lượt ra đời ở Kiến An, Long Điền, Long Kiến, Mỹ Hiệp… thuộc quận Chợ Mới. Được sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn, Đoàn được thống nhất mang tên Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương trên phạm vi cả nước.
Tuy còn nhiều hạn chế, chưa giành được thắng lợi toàn diện trên phạm vi cả tỉnh Long Xuyên - Châu Đốc nhưng cao trào cách mạng 1930 - 1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của lực lượng chính trị to lớn của quần chúng. Qua đó lực lượng thanh niên, đặc biệt là sự liên minh giữa thanh niên trí thức và thanh niên ở nông thôn tạo nên sức mạnh vĩ đại xứng đáng là thanh niên chủ lực trong phong trào yêu nước. Một khi có đường lối cách mạng đúng đắn, đường lối đó phù hợp với thực tiễn ở địa phương, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của đại đa số quần chúng được Đảng tiên phong tổ chức và lãnh đạo, thì có thể trở thành lực lượng vật chất hùng hậu, tạo nên sức mạnh vô địch, lật nhào mọi kẻ thù.
Cũng qua cao trào cách mạng 1930 - 1931, báo hiệu một thời kỳ mới: Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản của nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc.
*
*      *

ĐOÀN THANH NIÊN DÂN CHỦ LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC
TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1936 - 1939

Những năm đầu của thập niên ba mươi của thế kỷ XX; Chủ nghĩa phát xít quốc tế xuất hiện hình thành phe trục: Berlin - Roma - Tokyo âm mưu gây chiến tranh hòng chia lại thị trường thế giới. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản triệu tập Đại hội lần thứ 7 (7/1935) tại Matxcơva - Nga do đồng chí Dimitrov chủ trì. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cho các Đảng Cộng sản và công nhân Quốc tế là phải thành lập Mặt trận nhân dân rộng rãi ở từng nước, chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do cơm áo hòa bình. Riêng các nước thuộc địa việc thành lập Mặt trận có tầm quan trọng đặc biệt.
Chấp hành Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập và giành được thắng lợi trong cuộc tranh cử ở Pháp. Leon Blum lên cầm quyền có đề ra một số chính sách cải cách có tính chất tiến bộ ảnh hưởng tích cực đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở Đông Dương.
Sau khi dự Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong liền triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng (7/1936) ở Thượng Hải - Trung Quốc. Hội nghị phân tích tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt trước những chủ trương tiến bộ của Chính phủ Bình dân Pháp. Trung ương Đảng quyết định: chuyển hướng đấu tranh cho phù hợp với tình hình mới. Hội nghị xác định kẻ thù của cách mạng nước ta lúc này là bọn đế quốc phản động nhất là bọn tay sai ở Đông Dương. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc phản đế, sau đó là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh đòi những quyền dân sinh dân chủ, đòi tự do cơm áo hòa bình, chống phát xít, chống chiến tranh. Hình thức đấu tranh và phương pháp đấu tranh là công khai hợp pháp, linh hoạt mềm dẻo.
Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và trong tỉnh, được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 của Đảng soi đường. Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc đã vận dụng và thống nhất lãnh đạo: tiếp tục củng cố hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng vừa mới phục hồi, đồng thời cử cán bộ trực tiếp lãnh đạo các tổ chức công khai hợp pháp của quần chúng, các đoàn thể cách mạng cũng được đổi tên phù hợp với tình hình mới, trong đó có Đoàn Thanh niên Cộng sản được đổi thành Đoàn Thanh niên Dân chủ.
Tháng 8 năm 1936 Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc mở cuộc vận động tuyên truyền rộng rãi cho cán bộ và nhân dân thông suốt chủ trương mới của Đảng, kêu gọi quần chúng tích cực tham gia vào các tổ chức công khai, hợp pháp, tiến hành đấu tranh đòi những quyền lợi trước mắt: đòi tăng lương, giảm giờ làm, thả tù chính trị, nới rộng quyền tự do dân chủ, chống bọn địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân…
Mở đầu là cuộc đấu tranh của 700 thợ dệt ở Chợ Mới (8/1936) tiếp theo là cuộc đình công của 400 thợ thủ công (9/1936) đòi bọn chủ tăng tiền công lên 15%. Sau đó nông dân xã Thạnh Quới (Long Xuyên), nông dân xã Vọng Thê (Châu Thành) đấu tranh chống bọn địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân.
Ở hai thị xã Long Xuyên - Châu Đốc, các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi chính quyền thực dân thả tù chính trị.
Tất cả các cuộc đấu tranh trên của nông dân, thợ thủ công và cư dân đô thị đều giành được thắng lợi. Chính quyền thực dân và bọn chủ xưởng buộc phải chấp nhận những yêu sách của quần chúng, nhiều đồng chí đồng bào bị bắt giam, tù đày trong các cuộc đấu tranh trước đó đã được thả tự do, họ về địa phương cùng hòa nhập vào cuộc chiến đấu mới với kẻ thù.
Cuối tháng 8/1936 Đảng bộ Long Xuyên lập ra các “Ủy ban hành động” ở Chợ Mới, Tân Châu, Châu Đốc… thu hút thanh niên tham gia, tại các trụ sở của “Ủy ban hành động” thanh niên đứng ra tổ chức nhiều buổi diễn thuyết, mít tinh nhằm tố cáo chính sách thống trị hà khắc của bọn thực dân và sự nhũng nhiễu của bọn tay sai ở địa phương, hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi những quyền lợi thiết thân trước mắt. Tại Châu Đốc, Chi bộ lãnh đạo Thanh niên, Phụ nữ và Ủy ban hành động đẩy mạnh hành động trong các nghiệp đoàn thợ may, hớt tóc, Hội hữu ái, Hội tương tế, Hội đá banh… tổ chức nhiều cuộc diễn thuyết công khai thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham dự. “Ủy ban hành động” còn vận động quần chúng hưởng ứng Đông Dương Đại hội như: đưa đơn kiến nghị, lập các ban dân nguyện, đòi tự do dân chủ, tố cáo tội ác của bọn tề làng gian ác… Phong trào lôi cuốn các dân tộc Khơmer, Chăm (Hòa Lạc) cùng tham gia.
Tháng 7/1937 Ông HONEL - Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp là thành viên của phái đoàn Nghị sĩ Quốc hội Pháp sang thăm Đông Dương đã đến Mỹ Luông - Chợ Mới. Đảng vận động đồng bào đi đón tiếp, đồng chí Ung Văn Khiêm vạch trần tội ác, chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp ở Long Xuyên - Châu Đốc, nêu lên cảnh sống cùng cực đói nghèo của người dân lương thiện. Ông HONEL chú ý lắng nghe và thông cảm với nỗi thống khổ của nhân dân ta, hứa khi về nước sẽ báo cáo lại cho Chính phủ Pháp những gì tai nghe mắt thấy trong chuyến đi này.
Đặc biệt, để phục vụ cho cuộc chiến tranh Pháp - Thái (Xiêm), nhà cầm quyền thực dân ra sức truy lùng bắt thanh niên ta đi làm bia đỡ đạn cho chúng. Trước tình hình đó, nhân dịp địch tổ chức kỷ niệm ngày Cách mạng Pháp (14/7/1938) ở Chợ Mới, Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc huy động đông đảo đồng bào đến dự rồi biến thành cuộc mittinh đòi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do dân chủ, không được bắt thanh niên đi đánh nhau với quân Xiêm, không được bắt bớ trả thù những người tham gia các cuộc đấu tranh. Trước đó (5/1938) hơn 400 người đã kéo đến dinh tỉnh trưởng Châu Đốc yêu cầu giảm thuế thân, thuế điền thổ, cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi.
Ngày 1/5/1939 hơn 500 quần chúng do thanh niên làm nòng cốt tổ chức cuộc mittinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động rồi biểu tình, tuần hành khắp các đường phố, tỉnh lỵ Châu Đốc hô vang các khẩu hiệu: “Tinh thần Quốc tế Lao động 1/5 muôn năm”, “Tự do tổ chức hội họp”. Ngoài ra, hàng loạt cuộc bãi công khác của công nhân nhà máy cưa Long Xuyên (8/1937), của thợ nề, thợ mộc, thợc rèn ở sở Tràng Tiền (Châu Đốc) vào tháng 4/1939… đòi tăng lương, trả lương đầy đủ.
Qua cao trào cách mạng 1936 - 1939, cách mạng ở Long Xuyên - Châu Đốc lên đến đỉnh cao mới, thể hiện tính đúng đắn của Tỉnh Đảng bộ trong việc chấp hành chủ trương chuyển hướng đấu tranh, đáp ứng được những yêu cầu và nguyện vọng cấp thiết của nhân dân trong tỉnh.
Qua cao trào cách mạng 1936 - 1939, Tỉnh Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc đã trưởng thành trong hình thức và phương pháp đấu tranh mới: đấu tranh công khai hợp pháp, trực diện với kẻ thù, phong trào thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, ở nông thôn, phong trào đã thu hút được nhiều nông dân, thợ thủ công, công nhân ở các huyện lỵ, tỉnh lỵ cùng tham gia.
Cao trào dân chủ 1936 - 1939 đã hình thành niên lực lượng chính trị to lớn của quần chúng, cán bộ Đảng viên và các đoàn thể acch1 mạng được rèn luyện trong thử thách, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt hơn ở giai đoạn sau.
Tuy thời ký này Long Xuyên - Châu Đốc chưa có tổ chức Đoàn từ trên xuống theo hệ thống, cơ sở Đoàn thanh niên nơi nào là do cấp ủy nơi đó trực tiếp lãnh đạo. Đoàn Thanh niên dân chủ các huyện, xã đã vận động tập hợp các tầng lớp thanh niên thành một lực lượng chính trị rộng lớn xung quanh mình, tham gia tích cực phong trào đấu tranh công khai hợp pháp, họ có mặt hầu hết trong các cuộc mittinh, biểu tình cho đến in ấn rải truyền đơn, diễn thuyết… bằng tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ. Ngoài ra, Đoàn Thanh niên còn học tập, tuyên truyền đường lối chủ trương mới của Đảng, lập ra các tổ chức sinh hoạt công khai như: Hội ái hữu, Công đoàn, Hội đọc báo, Hội đá banh… Nổi bật nhất là cuộc biểu dương lực lượng hơn 700 người ở Chợ Mới mà phần lớn là thanh niên để đi “đón rước” HONEL trong đoàn nghị sĩ Pháp sang điều tra tình hình ở Đông Dương khi HONEL đến Chợ Mới.
Giai đoạn này là giai đoạn tập dợt rộng lớn nhất của lực lượng thanh niên, là bước chuẩn bị quan trọng nhất cho cao trào cách mạng mới quyết liệt hơn ở giai đoạn 1940 - 1945 ở Long Xuyên - Châu Đốc sau này.
*
*      *

ĐOÀN THANH NIÊN CỨU QUỐC ĐI TIÊN PHONG TRONG CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở LONG XUYÊN -
CHÂU ĐỐC 1940 - 1945
Sau thời gian chuẩn bị về mọi mặt, chủ nghĩa phát xít quốc tế Đức - Ý - Nhật làm bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1/9/1930). Ở Pháp, Chính phủ bình dân bị đổ, Pétaine lên năm quyền đưa nước Pháp lao vào cuộc chiến tranh đẫm máu.
Ở Đông Dương thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy thống trị của chúng, những cải cách có tính chất dân chủ do nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giai đoạn 1936 - 1939 bị chúng thủ tiêu hoàn toàn, thay vào đó là sự thống trị bằng nhà tù và lưỡi lê. Để cung phụng cho cuộc chiến tranh bẩn thỉu này, bọn Pháp ra sức tăng cường bóc lột, vơ vét nhiều hơn nữa, bắt thanh niên ta đi làm bia đỡ đạn ở chiến trường Âu - Phi phục vụ cho cái gọi là “Cuộc chiến mẫu quốc đang theo đuổi”. Chính quyền thực dân đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, truy lùng bắt bớ cán bộ, đảng viên, nhưng nhờ tích lũy được nhiều kinh nghiệm ở hai cao trào trước đó, Đảng đã nhanh chóng rút về nông thôn hoạt động bí mật, mặt khác để lại một bộ phận ở thành thị tiếp tục xây dựng cơ sở, tổ chức quần chúng đấu tranh với kẻ thù trong điều kiện mới.
Tháng 11/1939 Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng chủ trương: Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tiến tới giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn hiện tại, sau đó được Hội nghị Trung ương 7 và 8 thông qua và hoàn chỉnh hơn đường lối giải phóng dân tộc. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương lần thứ 6, căn cứ vào thực tiễn cách mạng ở miền Nam, tháng 3/1940 Xứ ủy Nam Kỳ thông báo đến các địa phương chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa. Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1940 phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, từng bước lấn át quyền hành của thực dân Pháp, tiến tới hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương.
Ở Long Xuyên - Châu Đốc hàng loạt cán bộ Đảng viên bị bắt bớ, tù đày, địch liên tiếp mở các đợt vây ráp, ruồng bố, bắt xâu, bắt lính, bắt những người trốn thuế… giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng vọt, nhân dân không thể nào chịu đựng được nữa, một làn sóng cách mạng tất yếu sẽ ập đến.
Tháng 7/1940 Xứ ủy Nam Kỳ họp Hội nghị ở Tân Hương (Châu Thành - Mỹ Tho) nêu ra và thảo luận việc khởi nghĩa, tập trung lại có hai ý kiến: thứ nhất, phải gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vì Pháp đang yếu thế, quần chúng không thể chịu đựng được nữa; ý kiến thứ hai cho rằng không nên bạo động vì chưa có điều kiện chín mùi. Cuối cùng Hội nghị đi đến thống nhất và quyết định một mặt các địa phương khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, mặt khác chờ ý kiến của Trung ương.
Tháng 8/1940 Tỉnh ủy Long Xuyên họp tại Kiến An - Chợ Mới quyết đình thành lập “Ủy ban khởi nghĩa”, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, chuẩn bị lực lượng vũ trang phát triển mở rộng các đoàn thể quần chúng như Thanh niên, Phụ nữ, Nông hội… đặc biệt lực lượng thanh niên trong tỉnh được tổ chức thành từng nhóm 20 - 30 người để nghe phổ biến chủ trương mới của Đảng để vận động lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa. Các tầng lớp nam nữ thanh niên ngày đêm luyện võ nghệ, được trang bị vũ khí thô sơ, súng giả trong tay, đồng bào các giới tích cực mang gạo tiền, thức ăn đến đóng góp ủng hộ cho các “Ủy ban khởi nghĩa”. Những ngày đầu chuẩn bị trước khi khởi nghĩa đúng là ngày hội của quần chúng nhân dân. Khắp nơi các thôn xóm, làng mạc, nhất là ở Tân Châu, Chợ Mới, Tịnh Biên… khí thế cách mạng của quần chúng lên rất cao.
Tháng 11/1940, chiến tranh Pháp - Thái bùng nổ, bọn Pháp ở Đông Dương ra sức vơ vét của cải nhiều hơn nữa để cung cấp cho mặt trận, chúng tăng cường bắt thanh niên đi lính, hoặc đưa binh lính người Việt trong quân đội Pháp sang Campuchia để đánh nhau với quân Thái. Trước tình hình đó, một mặt ta tập trung lực lượng thanh niên luyện tập võ nghệ chuẩn bị khởi nghĩa, mặt khác phát động phong trào chống bắt lính trong thanh niên, không tham gia đi lính cho Pháp, khí thế cách mạng của quần chúng lên rất cao, vận động kêu gọi anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp phản chiến.
Trong lúc lệnh hoãn khởi nghĩa của Trung ương chưa về kịp thì Xứ ủy Nam Kỳ đã ban hành khởi nghĩa. Đêm 22 rạng 23 tháng 11/1940 ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận đều tiến hành khởi nghĩa. Riêng ở Long Xuyên - Châu Đốc lệnh khởi nghĩa đến trễ 7 ngày. Chấp hành Nghị quyết của Xứ ủy, liên Tỉnh ủy họp Hội nghị vào ngày 28 - 29 tháng 11/1940 tại Long Điền - Chợ Mới quyết định khởi nghĩa. Lấy Chợ Mới là điểm tấn công chính ở khu vực Long Xuyên, còn Tân Châu là điểm tấn công chính ở Châu Đốc. Phối hợp với hai điểm tấn công chính các địa phương khác trong tỉnh đồng loạt nổi dậy hưởng ứng.
Lệnh khởi nghĩa ban hành ở Long Xuyên - Châu Đốc thống nhất là 3 giờ sáng ngày 3/12/1940, đúng giờ qui định các địa phương đồng loạt khởi nghĩa. Nhưng kế hoạch đã bị lộ, bọn Pháp đã chủ động chuẩn bị trước để đối phó nên cuối cùng cuộc khởi nghĩa đã bị thẳng tay đàn áp đẫm máu. Tuy nhiên, ta cũng giành được những thắng lợi nhất định như phá dây thép ở Chợ Mới, đào lộ, đắp đường, giải tán một số tề xã ở nông thôn.
Cuộc khởi nghĩa ở Long Xuyên - Châu Đốc và cả Nam Bộ đều thất bại vì chưa có thời cơ chín mùi trong cả nước, và kẻ thù còn đủ sức để đàn áp cách mạng, hàng ngàn đồng bào bị tù đày, giết hại. Nhưng tiếng súng hào hùng từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ báo hiệu một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh bằng lực lượng vũ trang nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc chống lại bọn thực dân xâm lược, qua đó tập dợt cho quần chúng nhất là lực lượng thanh niên trong tỉnh chuẩn bị tiến lên giành thắng lợi quyết định ở giai đoạn sau.
Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, phần lớn các tổ chức, các cơ sở cách mạng của quần chúng và các tổ chức Đảng ở Long Xuyên - Châu Đốc bị lộ, thực dân Pháp và bọn tay sai ra sức lùng sục khám xét, bắt bớ giam cầm giết hại đồng bào, gây ra bầu không khí chính trị căng thẳng bao trùm lên khắp xóm thôn, đời sống người dân đã đói rách xác xơ nay lại thêm dịch bệnh tràn lan. Lợi dụng tình hình đen tối đó, bọn thống trị khuyến khích mở nhiều chùa chiền, am cốc nhất là ở vùng núi Sam, Tịnh Biên, Tri Tôn… chúng tung ra nhiều giáo lý, sấm giảng mang màu sắc chính trị để lôi kéo một phần nhân dân bi quan lo sợ, mê tín theo đạo. Cùng lúc ấy, bọn tay sai đủ loại giả danh cách mạng như bọn Tơrốtxki, Quốc dân Đảng… chui vào nắm các chức sắc cao trong các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Hòa Hảo để tuyên truyền, xuyên tạc chống lại Đảng, chống lại cách mạng gây cho ta những khó khăn nhất định.
Để trấn an, củng cố lại tinh thần của quần chúng, gây dựng lại cơ sở cách mạng, một số cán bộ cốt cán chuyển vùng tiếp tục mốc nối hoạt động ở những địa bàn mới, số còn lại ở địa phương liên hệ tập hợp với nhau lại tổ chức trừ gian, diệt ác, cảnh cáo trừng trị những tên Việt gian khét tiếng ở địa phương nhằm hạn chế những tổn thất do sự khủng bố của địch gây ra.
Ngày 8/2/1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau gần 30 năm bôn ba hải ngoại đã về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đến tháng 5/1941 Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị còn quyết định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh nhằm tập hợp các tầng lớp, Đảng phái, tôn giáo… tham gia vào tổ chức của những người yêu nước.
Giữa năm 1942 sau khi tiếp thu nội dung Nghị quyết Trung ương lần thứ 8, cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh, Điều lệ của các tổ chức cứu quốc… một số cán bộ phổ biến sâu rộng tận các cơ sở Đảng và các đoàn thể cách mạng của quần chúng.
Đầu năm 1943 ở Chợ Mới, Tân Châu, Tịnh Biên… các tầng lớp thanh niên được tập hợp lại tổ chức họ thành từng nhóm, tổ gia nhập vào các Hội đá banh, đội văn nghệ học nghề võ công khai… cuối năm 1943 hàng loạt các tổ chức cứu quốc ra đời như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc… thu hút các tôn giáo tham gia như Công giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc được tổ chức ở Chợ Mới.
Cuối năm 1944 đến đầu năm 1945 hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng được phục hồi trở lại, các tổ chức quần chúng của Mặt trận Việt Minh phát triển sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, tích cực chuẩn bị gấp rút mọi mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Long Xuyên - Châu Đốc.
*
*      *
Chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp kết thúc. Ngày 9/5/1945 bọn phát xít Nhật bị tiêu diệt ở Châu Âu, trong lúc chúng đang bị sa lầy ở Châu Á - Thái Bình Dương. Để đề phòng bọn Pháp trở lại, bảo đảm cho sự an toàn của mình, đêm 9/3/1945 Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương, rồi giở trò “trao trả độc lập” giả hiệu cho Bảo Đại và lập ra Chính phủ bù nhìn tay sai Trần Trọng Kim, vận động tay sai thành lập các tổ chức thân Nhật, ra sức tuyên truyền cho thuyết “Đại Đông Á” nhằm lừa bịp nhân dân ta.
Ngày 12/3/1945 Trung ương ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Tại Long Xuyên - Châu Đốc, Nhật nắm được một số thủ lĩnh trong Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài. Nhật giao cho bọn này giữ các chức vụ quan trọng trong tỉnh, rồi xây dựng lực lượng trang bị vũ khí, bắt thanh niên tham gia vào các đạo quân giáo phái, nhằm chống lại Mặt trận Việt Minh.
Tình hình có sự chuyển biến mới, Tỉnh ủy lâm thời Long Xuyên đề ra nhiệm vụ trước mắt là tập hợp các lực lượng yêu nước, tổ chức họ vào các tổ chức các Hội quần chúng, kêu gọi vận động thanh niên tham gia xây dựng và phát triển các đội tự vệ vũ trang khỏe mạnh.
Tại Châu Đốc Tỉnh ủy lâm thời tuyên truyền cho Mặt trận Việt Minh, lớp lớp thanh niên hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng hăng hái xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đoàn thể cứu quốc của quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền.
Tuyển chọn những thanh niên khỏe mạnh, tích cực gia nhập và hình thành các đội tự vệ, đội chiến đấu ngày đêm tập luyện quân sự. Tại tỉnh lỵ Long Xuyên, Đảng thành lập đội thanh niên xung kích đi rải truyền đơn, treo biểu ngữ, cấm cờ.
Đến giữa năm 1945 Nhật lập ra tổ chức Thanh niên tiền phong làm hậu thuẫn cho Chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim, chống lại tổ chức thanh niên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Biết được âm mưu của địch, Xứ ủy Nam Kỳ cử Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một nhân sĩ yêu nước ra làm thủ lĩnh Thanh niên tiền phong nên các hoạt động của tổ chức này đều do Xứ ủy lãnh đạo.
Bọn thân Nhật ở Long Xuyên - Châu Đốc cũng đứng ra hiệu triệu các tầng lớp thanh niên thành lập Thanh niên tiên phong Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc nhanh chóng đưa cán bộ và quần chúng có cảm tình với cách mạng ra nắm lấy tổ chức này.
Ở Tỉnh lỵ tranh giành ảnh hưởng đối với lực lượng Thanh niên tiền phong diễn ra ngấm ngầm nhưng không kém phần quyết liệt giữa ta và các phe phái phản động. Ở Chợ Mới, đồng chí Lê Thiện Tứ làm Tráng trưởng Thanh niên tiền phong huyện sau đó xây dựng các Ban quản trị Thanh niên tiền phong ở các xã.
Như vậy, Đoàn Thanh niên cứu quốc đưa cán bộ và làm hạt nhân nòng cốt hoặc mang danh nghĩa Thanh niên tiền phong để hoạt động theo sự chỉ đạo của Đảng bộ các cấp.
Tổ chức Thanh niên tiền phong ra đời đã thu hút nhanh chóng đông đảo các tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước, các giáo chức, học sinh và quần chúng yêu nước ở Long Xuyên - Châu Đốc tích cực tham gia, hoạt động công khai, hợp pháp với nhiều hình thức sôi nổi như luyện tập võ nghệ, canh gát giữ gìn an ninh trật tự và làm nhiều công tác xã hội khác, được trang bị đồng phục chỉnh tề và kỷ luật tương đối nghiêm. Qua một thời gian ngắn, tổ chức Thanh niên tiền phong lan rộng khắp các địa phương trong tỉnh. Ở Chợ Mới, chỉ trong một tháng ra mắt đã tập hợp trên 1 vạn người, riêng tại Châu Đốc lực lượng này lên đến hàng vạn.
Tại Tỉnh lỵ Long Xuyên lực lượng thanh niên xung kích bí mật đưa vào trong hàng ngũ cảnh sát Ngụy bảo vệ Dinh tỉnh trưởng. Tuy nhiên, do tổ chức thu nhận người ồ ạt nên những phần tử cơ hội, phản động chui vào được Thanh niên tiền phong, tình trạng này thấy rõ nhất ở các tỉnh lỵ.
Sau một thời gian chuẩn bị gấp rút về mọi mặt, đội quân chính trị to lớn của quần chúng được hình thành, phong trào của giáo chức, học sinh, của nông dân, thợ thủ công lôi kéo cả viên chức lớp dưới và một số binh lính người Việt trong quân đội Pháp ngã theo cách mạng. Lực lượng cách mạng đã sẵn sàng chờ lệnh tổng khởi nghĩa.
Trong lúc Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc ráo riết chuẩn bị cướp chính quyền thì ngày 15/9/1945 Nhật tuyên bó đầu hàng phe đồng minh vô điều kiện, bọn Nhật ở nước ta nói chung và ở Long Xuyên - Châu Đốc nói riêng hoang mang cực độ, như rắn mắt đầu, thời cơ ngàn năm có một để nhân dân ta vùng lên đánh đổ bọn thống trị giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc đã đến.
Ngày 23/8/1945, Tỉnh lỵ Long Xuyên nhận được Chỉ thị của Xứ ủy Nam Kỳ là phải cướp lấy chính quyền từ trong tay Nhật trong ngày 25/8/1945. Tỉnh ủy đã triệu tập cấp tóc cuộc họp: Hội nghị quyết định cướp chính quyền tại Chợ Mới ngày 24/8/1945, sau đó đem lực lượng về hỗ trợ cướp chính quyền ở Long Xuyên ngày 25/8/1945.
Đêm 23 rạng 24/8/1945 hàng ngàn quần chúng tiến hành về Dinh quận, đi đầu là lực lượng thanh niên xung kích; trước áp lực to lớn của quần chúng, tên Quận trưởng buộc phải giao chính quyền và nộp vũ khí cho cách mạng.
Cùng ngày 24/8/1945 Chi bộ Long Xuyên cũng tổ chức cho quần chúng treo băng cờ, khẩu hiệu, các đội tự vệ chiến đấu “bí mật bám sát các kho súng, kho đạn, Dinh tỉnh trưởng, nhà dây thép…” để phân hóa cô lập kẻ thù, xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính trước mắt, đồng thời nhằm tập hợp các lực lượng yêu nước chống kẻ thù chung của dân tộc. Tranh thủ các tôn giáo ở địa phương, đồng chí Nguyễn Văn Nhung thay mặt Đảng gặp các vị chức sắc, chủ chốt trong giáo phái Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, đồng thời gặp các vị thủ lĩnh Thanh niên tiền phong, kêu gọi họ vận động ủng hộ Mặt trận Việt Minh cùng tham gia giành chính quyền, trong tình trạng không thể cưỡng lại được, họ đồng ý giao chính quyền.
Rạng sáng 25/8/1945 đông đảo nhân dân quận Chợ Mới và các huyện lân cận kéo về Tỉnh lỵ Long Xuyên tập trung tại nhà Hội Mỹ Phước (nay là UBND phường Mỹ Long, Tp. Long Xuyên) hàng vạn đồng bào gồm các tôn giáo, các đoàn thể, đặc biệt là Thanh niên tiền phong do Thanh niên cứu quốc làm nòng cốt, đội ngũ chỉnh tề nghe đại diện Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Long Xuyên trân trọng tuyên bố: “Xóa bỏ chính quyền cũ và kể từ giờ phút này chính quyền thuộc về nhân dân ta”, trước sự vang hô vang dậy của đồng bào.
Cùng ngày tại Tân Châu, đông đảo quần chúng cũng làm áp lực buộc tên Quận trưởng phải giao chính quyền và toàn bộ vũ khí, đồng bào nhất tề nổi dậy quét sạch bọn tay sai ở các làng xã. Sau đó, Tỉnh ủy điều lực lượng hỗ trợ cướp chính quyền ở Châu Đốc.
Việc giành chính quyền ở Châu Đốc khá phức tạp. Hai đồng chí Nguyễn Văn Nữ và Trần Khôn thay mặt Việt Minh đến tranh thủ gặp tên Tỉnh trưởng bàn việc giao chính quyền, nhưng hắn giằng co ngoan cố không chịu (Hồ Tấn Khoa - Tỉnh trưởng Châu Đốc). Chiều 25/8/1945 ta thuyết phục được quân Nhật án binh bất động. Đêm 25/8/1945 lực lượng ta đồng loạt nổi dậy chiếm giữ các trụ sở công cộng, phối hợp lực lượng Thanh niên tiền phong đang làm chủ Tỉnh lỵ, đông đảo nhân dân các xã kéo về trung tâm Điểm Bễ (Ta thu được hơn 100 cây súng tại Châu Đốc).
Đúng 7 giờ sáng ngày 26/8/1945, lực lượng Thanh niên tiền phong cùng các tôn giáo, Đảng phái hàng ngũ chỉnh tề tập trung tại sân vận động làm lễ tuyên thệ của Thanh niên tiền phong, đồng chí Nguyễn Văn Thôi đại diện cho Đảng bộ Châu Đốc trịnh trọng tuyên bố trước các tầng lớp thanh niên: “Cách mạng đã thành công, chính quyền cũ đã được xóa bỏ, kể từ đây chính quyền thuộc về tay nhân dân”.
*
*      *
Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền (8/1945) thắng lợi, kết thúc cuộc đấu tranh của nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc chống thực dân Pháp xâm lược gần 80 năm, là kết quả của hơn 15 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc, kể từ khi Chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ở đây (ở Long Điền - Chợ Mới). Từ nay các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thoát khỏi thân phận nô lệ của người dân mất nước, họ trở thành chủ nhân thật sự trên quê hương làng xóm của mình.
Qua 15 năm đấu tranh cách mạng, Đảng đã tổ chức và lãnh đạo, rèn luyện và hướng dẫn, các thế hệ thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc mà đại biểu là tổ chức Đoàn Thanh niên, tuy qua nhiều lần đổi tên khác nhau cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng luôn luôn vẫn xứng đáng là đội quân xung kích trong các phong trào cách mạng của quần chúng, là đội quân hậu bị tin cậy của Đảng. Ngay từ khi có Chi bộ Đảng đầu tiên mới ra đời, thanh niên trí thức yêu nước mà phần lớn là giáo chức, học sinh đã có công lao rất to lớn trong việc truyền bá những tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước ở địa phương, làm dấy lên làn sóng đấu tranh cách mạng theo trào lưu mới: con đường giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản. Những đường lối, chủ trương của tỉnh Đảng bộ được họ tiếp thu nhanh chóng, từ đó họ tuyên truyền, vận động các tầng lớp thanh niên từ nông thôn, trường học, đến đô thị… hợp thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh tổng hợp của tuổi trẻ, quật nhào thế lực phản động của kẻ thù.
Việc xuất hiện tổ chức Thanh niên tiền phong ở Long Xuyên - Châu Đốc là một nét khá độc đáo ở địa phương và cả Nam Bộ. Về danh nghĩa đây là tổ chức do Nhật lập ra, những hoạt động của nó công khai hợp pháp, biểu dương lực lượng nhằm đối đầu với Thanh niên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Nhưng Đảng đã khéo léo lợi dụng tổ chức này đưa Đoàn Thanh niên cứu quốc vào làm hạt nhân, hoặc tranh thủ những thủ lĩnh của Thanh niên tiền phong, những người ít nhiều có tinh thần yêu nước (Thủ lĩnh TNTP ở Long Xuyên là Dương Văn Ân, Trần Minh Quân), tên cò Sâm (tỉnh Hội Hòa Hảo) làm cảnh sát trưởng ở Long Xuyên. Ở Châu Đốc thầy giáo Phương, bác sĩ Lê Văn Trí làm thủ lĩnh TNTP) thuyết phục họ phối hợp với lực lượng cách mạng của quần chúng tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nên về thực chất Thanh niên tiền phong hoạt động chịu sự chi phối của ta. Được các thành viên Thanh niên cứu quốc làm nòng cốt, Thanh niên tiền phong với lực lượng đông đảo nhất đã góp phần vào sự thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Long Xuyên - Châu Đốc.
Nhìn lại chặng đường 15 năm, từ khi ngọn lửa cách mạng bùng lên ở Chợ Mới nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng lâu đời, sau đó lan tỏa rộng ra các địa phương khác, những cuộc đấu tranh đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng đến khi giành được chính quyền (tháng Tám năm 1945)… tất cả các ngòi nổ cách mạng đều được châm lên từ Chợ Mới, có thể khẳng định rằng Chợ Mới là cái nôi cách mạng của nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc; thanh niên huyện Chợ Mới có thể tự hào rằng mình là lực lượng thanh niên tiên phong trong phong trào chung của các tầng lớp thanh niên trong tỉnh. Truyền thống này còn được phát huy tác dụng mạnh mẽ ở các giai đoạn sau.
---o0o---


Chương II: Đáp lời kêu gọi của Đảng thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc bước vào cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ 1946 - 1954

THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC THAM GIA VÀO CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ BẢO VỆ VÀ GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
TỪ CUỐI NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1947
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và với nhân dân toàn thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ra sức bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng.
Ở Long Xuyên - Châu Đốc, ngay sau khi giành được chính quyền, nhiệm vụ của Đảng bộ là phải thống nhất các tổ chức Đảng và củng cố Mặt trận Việt Minh, phát triển các đoàn thể quần chúng làm cơ sở để hình thành và phát triển các lực lượng vũ trang nhằm giữ vững chính quyền cách mạng, sẵn sàng chống trả âm mưu quay trở lại xâm lược Nam Bộ của thực dân Pháp.
Ngày 23/9/1945, bọn Pháp nổ súng ở Sài Gòn, bắt đầu xâm lược Nam Bộ. Nhân dân ta hưởng độc lập tự do chưa đầy một tháng lại phải bước vào cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Nhiệm vụ chủ yếu lúc này là phải xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Ngày 6/1/1946, nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc cùng đồng bào cả nước nô nức đi bầu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Cuộc bầu cử hoàn thành thắng lợi. Ủy ban Hành chính ở hai thị xã Long Xuyên - Châu Đốc được thành lập, sau đó các huyện xã cũng ra mắt Ủy ban các cấp (Bác sĩ Dương Văn Ân làm Chủ tịch tỉnh Long Xuyên, Đồng chí Trần Văn Thôi làm Chủ tịch tỉnh Châu Đốc).
Trước đó ngày 2/1/1946 Pháp đưa một tàu chiến bắn phá khiêu khích ở Cái Sao (cách Long Xuyên khoảng 6 km) nhưng bị trung đội Cộng hòa vệ binh vây đánh buộc tàu địch phải tháo chạy về Cần Thơ.
Đến ngày 9/1/1946 quân Pháp chính thức tấn công thị xã Long Xuyên, mở màn cho kế hoạch đánh chiếm Long Xuyên - Châu Đốc lần thứ hai. Tỉnh ủy chỉ thị toàn bộ lực lượng rút khỏi thị xã để lại Cộng hòa vệ binh, cảm tử quân ngăn chặn kiềm chế bước tiến của giặc, trong cuộc chiến đấu cầm chân địch, một đội viên xung phong anh dũng hy sinh khi giật quả bom ở cầu tàu liên tỉnh (nay là căn cứ Hải quân của ta, phía ngoài Công viên Nguyễn Du) nhưng bom không nổ, địch bắt anh và bắn anh tại đầu cầu tàu. Sau đó quân Pháp đổ bộ lên bờ tiến theo các trục lộ giao thông Long Xuyên đi Châu Đốc truy kích lực lượng của ta nhưng chúng bị chặn đánh suốt trên trục đường nên tiến quân rất chậm, sinh lực địch bị tiêu hao nhiều nên buộc Pháp phải chuyển hướng tấn công bằng đường thủy.
Ngày 20/1/1946 Pháp chiếm được thị xã Châu Đốc, toàn bộ lực lượng của ta rút lui về núi Sam lập phòng tuyến đánh Pháp. Sau khi chiếm xong hai thị xã lớn Pháp lần lượt đánh chiếm các Huyện lỵ Tân Châu, Chợ Mới, Tri Tôn, Tịnh Biên… cơ quan của hai Tỉnh ủy  Long Xuyên - Châu Đốc rút về căn cứ U Minh để bảo toàn lực lượng, để lại một bộ phận nhỏ làm nòng cốt cho phong trào xây dựng du kích chiến tranh, chống âm mưu mở rộng và lấn chiếm của địch, từng bước làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của địch, buộc địch phải đánh lâu dài với ta.
Với một số thắng lợi bước đầu vừa giành được, bộ máy tuyên truyền của Pháp huênh hoang rêu rao là chúng tiêu diệt hết lực lượng Việt Minh để hòng gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, thì ngày 23/9/1946 một thanh niên xung kích trong lực lượng Cộng hòa vệ binh đã bí mật treo cờ Tổ quốc ngang sông Châu Đốc, bọn Pháp tức tối điên cuồng, còn đồng bào ta hết sức phấn khởi vì biết rằng lực lượng cách mạng vẫn còn tồn tại và hoạt động ngay sát kẻ thù. Niềm tin tưởng vào Đảng, vào sự thắng lợi của cách mạng trong các tầng lớp nhân dân được tăng lên, bầu nhiệt huyết của lòng yêu nước được khơi dậy mãnh liệt, lớp lớp thanh niên hăng hái tòng quân, xung phong đi bộ đội, vào dân quân tự vệ… để đánh giặc giữ làng.
Cuối năm 1946 giữa Pháp và Đảng Dân xã (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) có mâu thuẫn với nhau, ta chủ trương hợp tác với Đảng Dân xã nhằm hạn chế những tổn thất cho ta do bọn Dân xã gây ra, đồng bào hai bên thỏa thuận không đánh nhau, nếu một trong hai bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu. Hai bên đã đoàn kết hợp lực đánh Pháp ở cây Bườn, Long Điền A, Chợ Mới… Nhưng sự hợp tác này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn thì bọn Dân xã trở mặt phản bội. Giữa năm 1947 Ban Dân xã miền Tây ra lệnh bắt giết cán bộ Việt Minh, bọn chúng gây ra cho lực lượng cách mạng những khó khăn và tổn thất đáng kể trong thời gian đầu, buộc Tổng bộ phải có những thay đổi trong đối sách với chúng và hoạt động của ta bị nhiều hạn chế.
 *
*      *
Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới: Xây dựng Đảng và củng cố lại các đoàn thể quần chúng. Tháng 2 năm 1947 Tỉnh ủy Long Xuyên quyết định thành lập Ban Thanh vận tỉnh gồm có các đồng chí Trần Tường, đồng chí Bích, đồng chí Ngọc Sơn… nhằm mở Mặt trận vận động thanh niên. Đến tháng 3 năm 1947 Ban Thanh vận tỉnh Long Xuyên do đồng chí Phùng Lương làm Trưởng đoàn, kết hợp cùng một số càn bộ Đoàn Thanh niên cứu quốc đã hoạt động ở nhiều xã, tập hợp thu hút đông đảo mọi tầng lớp thanh niên đoàn kết nhau lại cùng chống kẻ thù chung là bọn Pháp xâm lược. Phong trào phát triển khá mạnh vùng Mỹ Luông, Hội An thuộc huyện Chợ Mới, ở các địa phương khác do các tôn giáo, nhất là Hòa Hảo kiểm soát ta không xây dựng được cơ sở lôi kéo số thanh niên còn lại tham gia vào phong trào chung với toàn tỉnh.
Do sự cấu kết giữa Đảng Dân xã với thực dân Pháp tiến hành đánh phá các cơ sở, căn cứ cách mạng, lực lượng ta bị chia cắt, cô lập, các cán bộ hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn nên Xứ ủy Nam Kỳ quyết định thành lập hai tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hậu (1948) lấy sông Hậu làm ranh giới ngăn chia địa bàn hoạt động.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy phát động quần chúng chống lại 3 thứ giặc: giặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm, các đoàn thể cách mạng trong đó của Đoàn thanh niên cứu quốc đẩy mạnh phong trào thanh niên thi đua chống 3 loại giặc này.
    Về chống giặc dốt: Tỉnh Đoàn tổ chức 1 buổi lễ ra mắt sau đó phát động phong trào diệt giặc dốt, tổ chức liên hoan văn nghệ, diễn kịch phục vụ. Các lớp “Bình dân học vụ” được mở, người biết chữ dạy cho người không biết chữ, ngay trong gia đình vợ chồng con cái chỉ dẫn lẫn nhau cùng xóa nạn mù chữ; dùng các loại than, đất, gạch… hoặc bất cứ vận dụng nào có thể được để dùng làm phấn viết, lấy đá, nón, nền đất, nền tường làm bảng để tập viết. Các cửa ngõ ra vào chợ, cổng làng, từng nhóm thanh niên tổ chức viết một vài chữ cái, một vài từ thông dụng, mọi người đi ngang qua ai đọc được sẽ cho qua… bằng nhiều hình thức đơn giản ít tốn kém thời gian dần dần nạn mù chữ bị đẩy lùi.
    Về giặt đói: Do chính sách vơ vét lúa gạo, nhổ lúa trồng đay của bọn Pháp - Nhật nên sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nạn đói đe dọa dọa nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, nhất là các đồng chí đồng bào đang trực tiếp chiến đấu thì lo cái ăn là vấn đề nguy ngập lớn. Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chánh Long Xuyên - Châu Đốc phát động “Tuần lễ vàng” trong toàn dân, Đoàn Thanh niên cứu quốc phối hợp với Hội Phụ nữ cứu quốc tổ chức nhiều cuộc mít tinh diễn thuyết, biểu diễn văn nghệ khắp nơi để cổ động, tuyên truyền lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ và Ủy ban Hành chánh tỉnh, qua cuộc vận động của Thanh niên, Phụ nữ, bà con trong tỉnh tự giác nhiệt tình hưởng ứng “Tuần lễ vàng”, “Quỹ độc lập” bằng tất cả tấm lòng của người dân đối với vận mệnh của đất nước, nhiều gia đình mang tiền của, gạo thóc ủng hộ cách mạng, thậm chí có những vật dụng thiêng liêng là “của gia bảo” như: lư đồng để thờ phượng ông bà, hay thau nồi… cũng được bà con mang đến đóng góp để “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”.
Những ngày đầu của cuộc kháng chiến, cuộc sống của đồng bào hết sức vất vả khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhưng anh em không khoanh tay ngồi chờ, thối chí chán nản. Một mặt Đoàn vận động tập hợp thanh niên xung kích, tấn công vào mặt trận chống giặc đói. Ban Chấp hành Tỉnh đoàn tổ chức biểu diễn văn nghệ, tiền bán vé được đem cứu trợ những cá nhân, đơn vị còn gặp nhiều khó khăn (như đêm văn nghệ năm 1947 được tổ chức ở làng Nhân Ái - Ô Môn - Cần Thơ) để lạc quyên góp giúp đỡ tù chính trị làm lộ phí trên đường về gia nhập vào đội tự vệ. Sau đó phong trào lan rộng trong các tầng lớp quần chúng bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: cử thanh niên trẻ, khỏe leo dừa mướn lấy tiền nuôi quân, bắt ba khía bán lấy tiền gây quỹ, xéo lúa, đào củ rừng, tăng gia sản xuất như nuôi gà, trồng khoai cứu quốc. Ngoài việc đẩy mạnh tự túc lương thực, thực phẩm. Đoàn Thanh niên còn tích cực tham gia vào phong trào tiếp các tỉnh xa xôi như Cần Thơ, Cà Mau tải gạo mang về nuôi quân, mỗi chuyến đi có khi mất hàng tháng trời mới về đến nơi, do đường đi khó khăn nguy hiểm, đồn bốt giặc dày đặc, bọn giặc chặn đánh dọc đường hòng bao vây kinh tế ta, cho nên nhiều khi về đến địa điểm tập kết thì số gạo còn lại không được bao nhiêu hoặc có khi hết sạch.
Trước sự ruồng bố, đánh phá ác liệt của Pháp và bọn Dân xã, thực hiện chính sách của Tỉnh ủy “Tiêu thổ kháng chiến” và phương châm “Vườn không nhà trống”, Ban vận động Liên đoàn thanh niên Việt Nam đã vận động lôi kéo thu hút đông đảo các tầng lớp thanh niên tham gia, trong đó có cả thanh niên các tôn giáo, thanh niên các dân tộc ít người, đồng tình hưởng ứng, họ rời bỏ xóm làng đi vào vùng Bảy Núi, được cấp đất tự túc lương thực và đóng góp nuôi quân, nhiều địa phương như An Tức, Ô Lâm, Tri Tôn, Lương Phí, Lạc Quế, Ba Chúc… đều xây dựng được Hội Thanh niên cứu quốc, mỗi đội có từ 15 - 16 người.
    Về giặc ngoại xâm: Trong cuộc chiến đấu với ba giặc, nguy hiểm hơn cả là giặc ngoại xâm. Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc đáp lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của núi sông, được Đảng dìu dắt, chỉ lối soi đường, họ lao vào trận chiến đấu với giặc ngoại xâm và nội phản, đây là mặt trận sôi nổi, quyết liệt hơn cả ngay từ những ngày đầu giặc Pháp trở lại xâm lược tỉnh nhà, thanh niên đã hăng hái gia nhập dân quân tự vệ bảo vệ xóm làng ngay từ đầu và ngày càng đông, bước đầu đã gây cho địch những thiệt hại đáng kể. Dân quân tự vệ xã Mỹ Đức (Châu Đốc) dùng vũ khí thô sơ như: lúa gạo, dao găm… tổ chức một nhóm hai người đâm, đập một tên giặc nhân sáng sớm lính Tây đi chợ vào cuối tháng 9/1946, kết quả ta thu được 9 súng của giặc, bọn Pháp hết sức hoang mang, lo sợ không dám nghênh ngang, hống hách như trước nữa. Trước đó một đơn vị bộ đội vừa qua đợt thanh niên tòng quân mới thành lập đã kéo dây sắt ngang sông Châu Đốc, dùng súng thần công đánh và đốt tàu giặc làm chậm bước tiến quân của quân giặc.
Qua giai đoạn từ cuối 1945 đến hết 1947 Đoàn Thanh niên cứu quốc Long Xuyên - Châu Đốc đã phát huy tốt vai trò lực lượng xung kích trong sự nghiệp bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng. Tổ chức Đoàn đã dấy lên phong trào thi đua đánh giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm trong các tầng lớp thanh niên. Thanh niên đã hưởng ứng tham gia bằng tất cả khát vọng độc lập tự do của tuổi trẻ. Tuy nhiên, những ngày đầu kháng chiến ưu thế quân sự thuộc về quân Pháp, chúng chủ động mở nhiều cuộc hành quân đánh phá các cơ sở, căn cứ của ta, âm mưu tiêu diệt lực lượng cách mạng trong thời gian ngắn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc đã cụ thể hóa đường lối kháng chiến của Trung ương là: “Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính” vào thực tiễn địa phương, khéo léo, linh hoạt nên dần dần khắc phục được những chỗ yếu kém ban đầu, nhanh chóng làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta, hàng ngàn thanh niên tòng quân, tham gia các đội dân quân tự vệ… phát động và tiến hành chiến tranh du kích tiêu hao sinh lực địch, buộc địch phải đánh theo kiểu lâu dài của ta, làm phá sản chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp.
Sau hơn hai năm xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, phong trào thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc có những bước trưởng thành đáng kể, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quí báu. Một hệ thống tổ chức Đoàn từ tỉnh đến huyện đã hình thành, một số xã thành lập được Ban Chấp hành, tạo đà vững chắc cho phong trào thanh niên phát triển nhảy vọt ở giai đoạn sau, góp phần xứng đáng vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ ở quê nhà.
*
*      *

THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC THAM GIA CỦNG CỐ,
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG KHÁNG CHIẾN MỌI MẶT
1948 - 1952
Bước sang đầu năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp trên phạm vi cả nước chuyển sang bước ngoặt mới, đặc biệt sau chiến thắng Biên Giới năm 1950. Sau thời gian phòng ngự, ta bắt đầu cầm cự và bước sang phản công địch liên tục. Ta chủ động mở hàng loạt chiến dịch đẩy kẻ địch vào thế bị động đối phó lúng túng ở khắp nơi. Ta giành chính quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính ở đồng bằng Bắc Bộ. Pháp ngày càng bị sa lầy ở chiến trường Đông Dương, buộc chúng phải lệ thuộc vào sự viện trợ của đế quốc Mỹ - tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương.
Trước những chuyển biến mới thuận lợi. Tỉnh ủy Long Châu Hậu chỉ đạo Ban Chấp hành Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc gồm các đồng chí Phạm Phùng Tu (Chín Tu), làm Tỉnh đoàn rưởng, đồng chí Lê Hải Phong làm Tỉnh đoàn Phó cùng một số Ủy viên. Đến năm 1950 đồng chí Phạm Phùng Tu được cử làm chính trị viên Tỉnh đội, đồng chí Đinh Thiếu Sơn được Xứ ủy đưa về làm Tỉnh đoàn Trưởng, tiếp tục tổ chức và lãnh đạo phong trào thanh niên Long Châu Hậu, đồng thời ra tờ báo “Gió mới” làm cơ quan ngôn luận của Tỉnh đoàn. Cuối năm 1950 Long Châu Hậu sáp nhập thêm Hà Tiên thành Long Châu Hà, còn Long Châu Tiền sáp nhập thêm Sa Đéc thành Long Châu Sa.
Đầu năm 1951 Đại hội đại biểu Tỉnh đoàn Long Châu Hà được triệu tập tại Hòn Sóc - Hòn Đất có gần 100 đại biểu về dự. Đại hội được tiến hành trong 3 ngày, đồng chí Phạm Phùng Tu được bầu làm Tỉnh đoàn Trưởng, cùng nhiều Ủy viên phụ trách từ mãn công tác của thanh niên. Nghị quyết được Đại hội thông qua là vận động tuyên truyền các bạn nam nữ thanh niên hăng hái tòng quân gia nhập bộ đội, tham gia dân quân tự vệ ở địa phương, bảo vệ xóm làng, diệt ác trừ gian.
Nhiệm vụ chủ yếu của thanh niên lúc này là tòng quân xây dựng và phát triển các đơn vị bộ đội, lớp thanh niên theo tiến gọi của Đảng thoát ly gia đình tham gia bộ đội đánh giặc giữ nước. Trận đánh tiêu biểu bộ đội ta lúc này là mở hai chiến dịch Long Châu Hà 1 và Long Châu Hà 2, tiêu diệt nhiều sinh lực địch giải phóng nhiều vùng đất rộng lớn, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, làm thất bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt” của giặc Pháp. Ngoài nhiệm vụ chính là gia nhập bộ đội, đoàn các cấp còn vận động đông đảo Đoàn viên thanh niên tham gia phục vụ chiến dịch như tiếp lương, tải đạn, chuyển thương binh về tuyến sau… vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, thậm chí hy sinh xương máu, thanh niên đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao.
Qua hai đợt tấn công cuối năm 1950 đầu năm 1951 ta tiêu diệt 43 đồn bốt giặc giải phóng vùng Bảy Núi, gồm phần lớn các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, làm hư hại nặng con lộ tẻ từ Long Xuyên đi Tri Tôn, cùng nhiều vùng nông thôn, cơ sở của ta được xây dựng ngay trong các vùng yếu và vùng do Hòa Hảo kiểm soát. Chiến thắng Long Châu Hà được nhân dân trong tỉnh đón nhận nồng nhiệt và đầy tự hào, từ đó sáng tác ra các câu ca dao ca ngợi các chiến công hiển hách của quân ta.
Bao phen quạ nói với diều
Vĩnh Thông, Cầu Sắt có nhiều xác Tây
Song với phong trào tòng quân, Đoàn còn vận động nam nữ thanh niên tham gia hăng hái dân quân tự vệ, nhất là ở những vùng tranh chấp, vừa chiến đấu vừa sản xuất tự túc lương thực, ngày đêm luyện tập quân sự, đi diễu hành theo đúng tác phong bộ đội, mang súng giả bằng cây hoặc bằng bụp dừa tạo nên khí thế sôi nổi, nhịp nhàng, gấy áp lực tinh thần binh lính địch, chúng hoang mang co rút lại cố thủ trong các đồn bốt, cứ điểm, không dám đi ra ngoài mở rộng địa bàn hoạt động ruồng bố như thời gian đầu. Các đội dân quân tự vệ còn phá đường, đắp cảng ngăn sông, diệt trừ bọn tề xã, ác ôn, lập làng xã chiến đấu mạnh nhất là ở vùng Tri Tôn, Tịnh Biên, phong trào thu hút cả thanh niên dân tộc Khơmer, các tôn giáo hưởng ứng… hình thành một Mặt trận thanh niên rộng lớn đoàn kết trong tỉnh. Những buổi liên hoan văn nghệ, đá banh là những loại hình lôi cuốn mạnh thanh niên, qua đó vận động tuyên truyền thanh niên xung phong tòng quân. Lực lượng dân quân tự vệ được bổ sung vào Vệ quốc đoàn.
Phong trào thanh niên trong lòng địch không kém phần quyết liệt, mạng lưới thanh niên được cài sâu rộng trong vùng địch kiểm soát, truyền đơn rải khắp nơi, thanh niên được tổ chức đi ám sát, diệt gian trừ tề, chặn đánh lẻ… tiêu biểu là vụ ám sát vợ chồng tên quan ba Pháp tên là Maria.
Đầu năm 1952 bọn Pháp cấu kết với các Đại đội Dân xã mở các cuộc hành quân cướp bóc vào căn cứ của ta ở Tri Tôn, Tịnh Biên, dụ dỗ mua chuộc đồng bào Khơmer bỏ làng về vùng chúng kiểm soát, âm mưu chia rẽ giữa cách mạng và đồng bào dân tộc ít người. Ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, đến giữa năm 1952 các xã vùng du kích như An Tô, An Tức, Lạc Quới, Lương Phi, Cô Tô tự đứng ra bảo vệ được phum, sóc đánh đuổi bắt phá được nhiều tên trộm cướp, Tỉnh đoàn kết hợp chiến đấu cùng chống kẻ thù chung giữa dân tộc Việt với Khơmer ngày càng được củng cố vững chắc.
Song song với việc phát động thanh niên đánh giặc giữ làng, các cán bộ đoàn chú trọng quan tâm đến công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ Đoàn, nhiều khóa học do tỉnh và khu Đoàn tổ chức thường như lớp học “Trần Quốc Tuấn”… nhằm bồi dưỡng cho các cán bộ đoàn viên, thanh niên nhận thức rõ được trách nhiệm của mình đối với cuộc kháng chiến, chủ yếu là phong trào tòng quân đi bộ đội, tham gia dân quân tự vệ…
Qua thời gian củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến về mọi mặt, phong trào cách mạng của quần chúng lan rộng khắp các địa phương, cơ sở bám rễ và ăn sâu đứng vững được trên địa bàn trọng yếu. Đặc biệt, với sự tham gia của các đơn vị bộ đội chủ lực, dân quân du kích, dân quân tự vệ của đông đảo thanh niên, hình thành nên ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau, đã tạo nên thế vững chắc hơn so với những năm đầu của cuộc kháng chiến, làm nền tảng cho những năm sau.
*
*      *
CÙNG VỚI NHÂN DÂN TRONG TỈNH, THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC GÓP PHẦN ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN 1953 - 1954
Đến năm 1953 đầu năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đi vào giai đoạn sắp kết thúc. Sau chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 thực dân Pháp bị động hoàn toàn, ta giành chính quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, thế và lực của chúng ta lớn mạnh hơn bao giờ hết. Phấn khởi trước những thắng lợi vừa giành được, Đảng quyết định phát động triệt để giảm tô, giảm tức, giảm thuế nông nghiệp và bước đầu tiến hành cải cách ruộng đất thực hiện người cày có ruộng, nhằm bồi dưỡng sức dân, hậu phương lớn mạnh làm hậu thuẫn cho tiền tuyến thắng to, bộ đội ăn no đánh giặc, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới có tính chất quyết định kết thúc cuộc chiến tranh đầy gian khổ hy sinh.
Thực hiện chủ trương trên của Trung ương và Chỉ thị của tỉnh Đảng bộ, Đoàn Thanh niên cứu quốc Long Xuyên - Châu Đốc dấy lên phong trào thu thuế nông nghiệp, từng đoàn viên được phân công đến từng nhà vận động bà con nộp thuế nuôi quân, đối với phú nông mức thuế cao hơn, đồng thời khuyến khích bà con tăng gia sản xuất… lực lượng thanh niên được đều đi đắp cảng ngăn sông, hạn chế phạm vi hoạt động, vơ vét lúa gạo của địch như: Cảng Trà Nóc, cảng Cờ Trắng (Hòa Điền)… đồng thời phá thuế bao vây kinh tế của giặc, đẩy chiến tranh du kích lên một bước mới.
Giữa lúc cuộc kháng chiến của quân dân Long Xuyên - Châu Đốc tiến triển thuận lợi, đạt được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn, thì tin chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) bay về làm nức lòng người dân trong tỉnh. Thắng lợi vĩ đại Điện Biên Phủ làm “Chấn động địa cầu” buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève (20/7/1945).
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kéo dài 9 năm đã kết thúc thắng lợi. Lực lượng kháng chiến trong tỉnh được phổ biến khái quát những nội dung cơ bản các điều khoản của Hiệp định Genève; lệnh ngừng bắn được công bố, cán bộ chiến sĩ được lệnh chuyển quân tập kết ra Bắc, sau 2 năm sẽ tiến hành Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, đi đến thống nhất Tổ quốc. Niềm tin Hòa bình vừa đến với đồng bào thì họ phải tạm chia tay với con em mình theo Chỉ thị của Đảng.
Trước một số không ít cán bộ, chiến sĩ đồng bào còn băn khoăn về việc chuyển quân tập kết, Tỉnh ủy chủ trương mở đợt học tập chính trị trong Quân - Dân - Chính - Đảng toàn tỉnh để quán triệt tinh thần của Hiệp định Genève và chủ trương của Đảng. Sau khi thông suốt mọi người nghiêm chỉnh chấp hành Chỉ thị của Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ tịch.
*
*      *
Qua chín năm kháng chiến đầy gian khổ hy sinh, các tầng lớp thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc phát huy tinh thần bất diệt của cách mạng tháng Tám năm 1945 anh dũng bước vào cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của thế hệ mình đối với sự nghiệp chung của đất nước, dân tộc.
Được sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhà, sự quan tâm giúp đỡ của Đoàn, Đoàn Thanh niên cứu quốc Long Xuyên - Châu Đốc đi tiên phong trong phong trào cách mạng ở địa phương. Tại những điểm nóng, nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc kháng chiến họ đều có mặt: từ việc tham gia cứu đói, diệt giặc dốt, đến tòng quân gia nhập bộ đội, dân quân tự vệ, du kích… họ đều đóng vai trò chủ lực.
Nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, đa dạng như: tổ chức liên hoan văn nghệ, thi đấu thể thao, tăng gia sản xuất, rải truyền đơn, treo cờ, luyện tập quân sự… thu hút đông đảo các tầng lớp thanh niên tham gia, lôi kéo một bộ phận thanh niên Hòa Hảo, thanh niên dân tộc Khơmer vào cuộc; đấu tranh bí mật, công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp… trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa với kẻ thù. Qua đó thể hiện tinh thần đoàn kết, yêu thương gắn bó nhau, tình bạn, tình đồng chí, đồng đội được xây dựng củng cố, hun đúc bền chặt hơn bao giờ hết. Nhiều Đoàn viên thanh niên nhận lấy trách nhiệm khó khăn nguy hiểm về mình, không ngại hy sinh gian khổ, họ chiến đấu vì lý tưởng độc lập, tự do cho quê hương mình, gia đình mình, không hề khuất phục trước sức mạnh bạo lực của kẻ thù, một lòng một dạ đi theo Đảng làm cách mạng đến cùng, luôn giữ niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
Qua phong trào cách mạng của quần chúng thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Đại biểu của họ là Đoàn Thanh niên cứu quốc được xây dựng, củng cố và phát triển nhanh chóng từ tỉnh đến huyện, cá biệt có nhiều xã đã có tổ chức Đoàn ở địa phương, cơ sở cách mạng ăn sâu, rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, hình thành đội quân chính trị to lớn. Đó là những cơ sở, những tiền đề cần thiết giúp cho Đoàn Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc có đủ kinh nghiệm bản lĩnh để bước vào cuộc chiến đấu mới đầy gay go và quyết liệt hơn ở giai đoạn sau.
Nếu như thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 phong trào thanh niên phát triển đều khắp từ thành thị đến nông thôn mà trung tâm là Chợ Mới, thì thời kỳ kháng chiến chống Pháp, phong trào thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc phát triển rầm rộ ở vùng nông thôn, có thể nói trung tâm của thời kỳ này lại ở vùng Bảy Núi, Tri Tôn, Tịnh Biên… nó phù hợp với xu thế chung của cuộc kháng chiến chống Pháp trên phạm vi toàn quốc là dùng vùng núi và nông thôn làm bàn đạp xây dựng căn cứ, bao vây thành thị.
Ngoài những thành tích nêu trên, phong trào Đoàn Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc còn bộc lộ một số hạn chế nhất định như: chưa thật sự xâm nhập lôi cuốn thanh niên các tôn giáo như: Hòa Hảo, Cao Đài một cách sâu rộng lâu dài, tuy có cố gắng nhưng kết quả thu được chưa thật sự như mong muốn. (Tuy nhiên, đây cũng có thể là một hạn chế có tính tất yếu của lịch sử). Ngoài việc tập hợp, vận động thanh niên nông thôn làm nòng cốt, tổ chức Đoàn các cấp hầu như chưa thật quan tâm, chú trọng đến một bộ phận khá đông còn lại là lớp thanh niên ở thành thị, thị xã, thị trấn… nhất là lớp thanh niên công nhân, giáo viên, học sinh hoặc anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp, trong các viên chức đang làm việc trong chính quyền địch… làm cho phong trào thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc thời kỳ 9 năm phát triển chưa đều khắp, phiến diện, gây nên những hạn chế nhất định trong thành tích chung của thanh niên toàn tỉnh đối với thắng lợi của cách mạng.
---o0o---
Chương III: Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc hăng hái tham gia cuộc kháng chiến lần thứ hai chống đế quốc xâm lược, góp phần hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở tỉnh nhà (1954 - 1975)
TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC
SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE
Chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ dẫn đến việc ký Hiệp định Genève kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Pháp phải thừa nhận, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nước ta tạm thời bị chia làm hai miền, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc. Cũng theo Hiệp định, lực lượng kháng chiến chuyển quân tập kết ra Bắc, quân Pháp và những người cộng sự với chính quyền thực dân sẽ chuyển vào Nam.
Nhưng những điều khoản trên của Hiệp định ký chưa ráo mực thì đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, hất cẳng Pháp bại trận, đưa Ngô Đình Diệm về dựng lên chính quyền tay sai âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa “kiểu mới” của Mỹ.
Trước sự lật lọng ngang ngược của Mỹ và tay sai, Hội Nghị Trung ương lần thứ VI (7/1954) của Đảng đã xác định: đế quốc Mỹ là kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương và đề ra phương trâm của cách mạng miền Nam lúc này là: phải kết hợp chặt chẽ hình thức đấu tranh hợp pháp, không hợp pháp, nhưng phải lấy hoạt động bí mật không hợp pháp là chính, đồng thời phải tranh thủ lợi dụng mọi khả năng hợp pháp tuyên truyền giáo dục quần chúng, luôn luôn bám sát quần chúng để hoạt động chống sự khủng bố của địch, che giấu, giữ gìn lực lượng cách mạng. Vì vậy, phương pháp đấu tranh lúc này là phải khéo léo, linh hoạt dùng đấu tranh chính trị là chủ yếu tiến công địch. Tiếp đó Hội nghị Bộ Chính trị (9/1954) chỉ rõ: “Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân miền Nam là đấu tranh đòi đối phương phải thi hành Hiệp định, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, không được đàn áp khủng bố nhân dân, và trả thù những người kháng chiến cũ”.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc Chỉ thị các đoàn thể cách mạng phải rút vào hoạt động bí mật, chuyển đổi vùng hoạt động cho cán bộ, cất giấu vũ khí… để bảo toàn lực lượng. Mặt khác Tỉnh ủy tổ chức nhiều cuộc đấu tranh với địch theo phương châm hoạt động: “kết hợp bí mật với công khai”. Chấp hành chủ trương của Đảng nhiều cán bộ Đoàn Thanh niên cứu quốc đã nhanh chóng chuyển đổi địa bàn hoạt động, làm nhiều nghề hợp pháp khác nhau để che mắt địch như: vẽ hình, ở mướn, thợ máy, dạy học, buôn bán… qua đó thâm nhập vào quần chúng, vận động tổ chức các tầng lớp nhân dân đấu tranh chính trị với kẻ thù. Để giữ gìn che giấu lực lượng và phù hợp với phương pháp đấu tranh trong tình hình mới, Tỉnh đoàn lúc này không tổ chức theo hình thức từ trên xuống dưới như thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà hoạt động của Đoàn Thanh niên gắn chặt với tổ chức Đảng từng địa phương ở các cấp. Họ giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện các Nghị quyết, chủ trương của Đảng bộ các cấp.
*
*      *

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÔNG KHAI RỘNG LỚN CỦA THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC CHỐNG CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI PHÁT XÍT
CỦA MỸ - DIỆM VÀ CAO TRÀO ĐỒNG KHỞI 1955 - 1960

Trong 2 năm 1955 - 1956 cùng với đồng bào miền Nam, nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị trực diện với kẻ thù, đòi Mỹ - Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève, giữ vững hòa bình chống trò hề “trưng cầu dân ý”, “bầu cử Quốc hội riêng rẽ”, đòi thực hiện dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Tiêu biểu trong thời kỳ này, nhiều tấm gương nổi bật như: Chị Sợi, chị Niên lên tận Sài Gòn đưa đơn cho “Quỹ Hội quốc tế” đòi hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Song song với đấu tranh chính trị, các tầng lớp nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc còn đấu tranh tẩy chay chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và những tổ chức quần chúng phản động do chúng dựng lên hòng làm cơ sở xã hội như: phong trào xé giấy bạc không sử dụng tiền do Diệm phát hành, phong trào tẩy chay Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ Cộng hòa. Qua các phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn của quần chúng, các tầng lớp nhân dân bóc trần bộ mặt mị dân của Mỹ - Diệm, nhận rõ hơn bản chất âm mưu của kẻ thù là muốn xây dựng chế độ thực dân mới lâu dài ở miền Nam. Đòn thất bại đầu tiên về chính trị của Mỹ - Diệm rất đau buộc chúng lúng túng đối phó.
Trong những năm 1957 - 1958 sự khủng bố của giặc lên đến mức điên cuồng tột đỉnh, chúng thẳng tay đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng của quần chúng, đánh bật nhiều cơ sở của ta, cán bộ còn ở lại sau Hiệp định đình chiến phải dạt vào nông thôn, hoạt động công khai và bán công khai, địch dựa vào bọn Dân xã đánh chiếm vùng. Tỉnh đoàn lúc này phân tán rải rác khắp nơi để tránh tổn thất do địch gây ra, cán bộ Đoàn tự tìm lấy vùng ổn định và tiếp tục hoạt động, móc nối lại cơ sở, cán bộ phải ngụy trang tạo “vỏ” hoạt động hợp pháp, một số chịu đựng gian khổ hy sinh không nổi đã ra đầu thú giặc.
Một mặt địch tăng cường khủng bố dã man, nhiều đồng chí, đồng bào bị chúng bắt bớ, giết hại; mặt khác chúng dùng nhiều thủ đoạn đe dọa, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc chia rẽ, tung mật thám lùng sục khắp nơi, dựa vào bọn chỉ điểm đánh phá vào các cơ sở trong quần chúng. Một số cán bộ thoái chí nản lòng, cầu an; một số khác nôn nóng, manh động muốn đấu tranh vũ trang ngay. Kẻ thù không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả bạo lực để đáp lại cuộc đấu chính trị tay không của quần chúng.
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy An Giang (Địch nhập Long Xuyên - Châu Đốc đối lập tỉnh An Giang đến năm 1957 ta cùng nhập lại tỉnh An Giang), chủ trương trước mắt vẫn là đấu tranh chính trị, tuy nhiên trong những hoàn cảnh nhất định có thể đấu tranh vũ trang để tự vệ.
Quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy, nhiều cán bộ cốt cán được đưa vào hoạt động trong giới giáo viên - học sinh, hoạt động công khai hợp pháp với nhiều hình thức phong phú mở trường dạy học (như Trường trung học Huỳnh Văn Nhứt, Trường tiểu học Trần Quốc Toản), các giáo viên ở đây hầu hết là những người kháng chiến hoặc là những người có tinh thần yêu nước, đấu tranh cho một nền giáo dục lành mạnh, chống chính sách giáo dục ngoại lai, du nhập lối sống cao bồi, truy lạc trong thanh niên, học sinh. Với tư cách là những người giáo viên trường tư, đồng chí Mười Thành (tức đồng chí Nguyễn Ngọc Mẫn, nay là Giám đốc SCN An Giang) bí mật lãnh đạo thanh niên, học sinh tại thị xã Long Xuyên làm dấy lên phong trào đấu tranh công khai rộng lớn sôi nổi. Hoảng sợ trước làn sóng đấu tranh của giáo viên - học sinh địch đưa một số tên mật thám đội lốt giáo viên như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Quí… vào trường học để nắm bắt tình hình, khống chế sự lớn mạnh của phong trào. Biết được ý đồ của địch, đồng chí Mười Thành cùng với một số cán bộ của Đoàn tổ chức vận động thanh niên, học sinh dấy lên phong trào đấu tranh mới bằng các khẩu hiệu thiết thực như: “Đòi tự trị học đường”, “Chống tình báo mật thám đội lốt giáo viên”, “Chống bắt lính trong trường học”… Các khẩu hiệu đấu tranh trên đáp ứng đúng yêu cầu nguyện vọng của thanh niên học sinh, thu hút đông đảo học sinh tham gia, hưởng ứng. Các cuộc đấu tranh của các trường bạn như Trường Thoại Ngọc Hầu (là trung tâm phong trào cách mạng ở đô thị lúc đó) đã gây dựng được lực lượng cách mạng đông đảo, đẩy mạnh phong trào chống chiến dịch “Tố cộng”, “Diệt cộng” trong nhà trường, chống chế độ độc tài Mỹ - Diệm bằng các hoạt động công khai hợp pháp như: văn nghệ, thể thao, học tập… đến hình thức cao hơn như chặng đường ám sát bọn mật vụ, bãi khóa đòi thỏa mãn một số yêu sách. Qua phong trào đấu tranh của học sinh ta thu được những thắng lợi có  ý nghĩa như: vạch mặt một số tên mật vụ đội lốt giáo viên, hạn chế sự hung hăng của bọn giám thị học đường, bước đầu làm thất bại âm mưu lôi kéo thanh niên, học sinh đi ngược lại quyền lợi của dân tộc làm tay sai cho giặc, sự khống chế giáo viên - học sinh trong nhà trường của địch bị thất bại. Cuộc thử thách đầu tiên với Mỹ - Diệm của thanh niên, học sinh đạt được thắng lợi, nhiều người được kết nạp vào tổ chức Đoàn. Đến năm 1957 Chi đoàn thanh niên đầu tiên được thành lập trong trường học gồm 3 đồng chí (gồm đồng chí Mười Thành, đồng chí Hồng và đồng chí Lễ), do đồng chí Mười Thành làm Bí thư. Chi đoàn đã tập hợp lực lượng trên 30 học sinh yêu nước làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh công khai. Đến năm 1959 Chi bộ đầu tiên của học sinh Long Xuyên - Châu Đốc được thành lập tại Trường Thoại Ngọc Hầu (gồm các đồng chí Mười Thành, Nguyễn Đăng Sơn, Trần Văn Tua (tự là Bảy Cường)) trực tiếp lãnh đạo phong trào học sinh đô thị. Song song với phong trào thanh niên ở các thị xã, ở nông thôn, cán bộ, Đoàn viên thanh niên xung kích trong các phong trào diệt ác, trừ tề, vận động các tầng lớp nhân dân đấu tranh ngăn chặn các cuộc hành quân của cảnh sát, nổi dậy phá thế kềm kẹp của địch, trở về quê cũ làm ăn sinh sống… thanh niên hăng hái tham gia các đội tự vệ vũ trang, chuẩn bị điều kiện bước vào thời kỳ đấu tranh gay go, ác liệt hơn.
Mỹ - Diệm ban hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp nơi giết hại đồng bào miền Nam. Chúng tiến hành hàng ngàn cuộc hành quân càng quét, bình định, ráo riết thực hiện chiến dịch “Tố cộng”, “Diệt cộng” gây cảnh đầu rơi, máu chảy, gieo tang tóc đau thương cho biết bao gia đình vô tội. Chính sách khát máu của Mỹ - Diệm gây nên làn sóng căm phẫn trong các tầng lớp nhân dân An Giang, họ ý thức đầy đủ rằng: “Muốn cứu nước, cứu nhà và tự cứu lấy mình không có con đường nào khác ngoài con đường vùng lên đấu tranh một mất một còn với kẻ thù để tìm con đường sống”.
Cùng lúc đó Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời. Với những tư tưởng chiến lược cách mạng kịp thời và thích hợp với hoàn cảnh cách mạng miền Nam, Nghị quyết 15 đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng: cách mạng miền Nam tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền bằng lực lượng của quần chúng, dựa vào đội quân chính trị là chủ yếu kết hợp với các lực lượng vũ trang, đánh đổ sự thống trị của kẻ thù, thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân. Nghị quyết 15 đã hoàn chỉnh đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam, đáp ứng kịp thời, sâu sắc nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân miền Nam trong đó có An Giang.
Trước tình hình chính trị có bước chuyển biến mới, Tỉnh ủy An Giang quyết định thành lập Ban Thanh vận tỉnh (gồm các đồng chí Bùi Văn Mỹ, Phạm Phùng Tu, Sáu Kiện) có nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương mới của Tỉnh ủy, vận động và tổ chức các lớp thanh niên đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống chính sách “Tố cộng”, “Diệt cộng”; gây dựng lại cơ sở cách mạng, xúc tiến thành lập các lực lượng vũ trang, phát động phong trào trừng trị ác ôn, phá thế kềm kẹp, tích cực chuẩn bị mọi mặt bước vào giai đoạn đấu tranh quyết liệt hơn.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15 và được Tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo, phong trào cách mạng ở An Giang vào những năm 1959 - 1960 có những bước tiến nhảy vọt. Cùng với phong trào Đồng Khởi ở toàn miền Nam. An Giang đã phát động quần chúng nổi dậy phá kềm kẹp, trừ ác, làm tan rã từng mảng lớn bộ máy thống trị ở cơ sở, chính quyền cách mạng hình thành nhiều vùng ở nông thôn, nhiều vùng đất đai rộng lớn được giải phóng như: Bình Đức, Mỹ Thạnh, Vĩnh Thanh… đặc biệt Vĩnh Thanh chỉ có vài đồng chí đoàn viên như: Sáu Mỹ Tâm, Năm Xạ cùng một số đồng chí khác đã vận động anh em binh lính bỏ hàng ngũ địch trở về với cách mạng, mặt khác phát động quần chúng thanh niên biểu tình, đánh trống thổi kèn, đánh mõ kéo đi tuần hành thị uy, trừng trị tên Trưởng ấp ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Đoàn viên thanh niên còn được phân công tới từng gia đình có con em đi lính vận động họ kêu con em trở về với nhân dân. Trước sức mạnh áp đảo của quần chúng, nhờ sách lược khéo léo của ta nên nhiều anh em binh lính giác ngộ cách mạng, mang súng về nộp cho cách mạng, hưởng chính sách khoan hồng của Đảng. Chính quyền tay sai của địch tan rã ở nhiều địa phương, số còn lại hoang mang dao động, giảm sút sức chiến đấu.
Phong trào Đồng Khởi ở An Giang hòa nhập vào phong trào chung của cách mạng miền Nam, đã đánh trúng vào khâu yếu nhất của địch là Ngụy quyền cơ sở, ta giành chính quyền làm chủ với hình thức tự quản, bước đầu chính quyền cách mạng giải quyết quyền lợi dân sinh, dân chủ cho nhân dân. Những thắng lợi vừa giành được tạo khí thế cách mạng cho quần chúng, lực lượng chính trị lớn mạnh nhanh chóng. Trên cơ sở đó, lực lượng vũ trang nhân dân ra đời. Cao trào Đồng Khởi mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp chặt chẽ với đấu tranh vũ trang, phong trào đô thị kết hợp với phong trào ở nông thôn.
Một lần nữa lực lượng cách mạng của quần chúng, nhất là lực lượng giáo viên học sinh, những thanh niên trí thức yêu nước đã đi đầu trong các cuộc đấu tranh chính trị với kẻ thù: đòi thi hành Hiệp định đình chiến, đòi tổng tuyển cử, chống chế độ độc tài, phát xít của Mỹ - Diệm… đến chống chính sách “Tố cộng”, “Diệt cộng” ngay trong trường học, vạch mặt chỉ tên những mật thám đội lốt giáo viên… Trung tâm ngọn lửa đấu tranh công khai là Trường Thoại Ngọc Hầu, cơ sở Đảng, Đoàn ta dựng được trong trường học. Chi đoàn tại đây ra được tờ đặc san “Sức trẻ” ra được 3 số, nội dung kêu gọi sự đoàn kết trong học sinh. Khi Nghị quyết 15 của Trung ương chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tại thị xã Long Xuyên đã thành lập ngay đội vũ trang lấy tên “Đội hành động” (gồm các đồng chí Mười Thành, Nguyễn Đăng Sơn, Út Hường và một số đồng chí khác do đồng chí Mười Thành làm tổ trưởng).
Trong khi đó phong trào thanh niên nông thôn hoạt động không kém phần rầm rộ, nhất là ở vùng giải phóng (Tri Tôn, Tịnh Biên…) nhiều hình thức hoạt động của thanh niên như tổ chức liên hoan văn nghệ, múa Lâm thol, phá khu trù mật ở Ba Thê, Ba Chúc, Gòi Chông… thu hút đông đảo thanh niên dân tộc Khơmer tham gia.
Tuy Ban Thanh vận tỉnh An Giang (Ban Chấp hành Tỉnh đoàn) hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, địch khổng bố ác liệt, nhưng vẫn tập hợp được lực lượng thanh niên, chống lại chủ trương của địch: bắt thanh niên đi lính, thanh niên chiến đấu, thanh niên cộng hòa do Mỹ - Diệm lập ra… Bằng cách đưa những thanh niên tốt có cảm tình với cách mạng vào hàng ngũ địch, biến Dân vệ, Thanh niên chiến đấu trở thành người của ta, cánh gát bảo vệ cán bộ, cơ sở cách mạng, lập “Khu trù mật” ở Ba Thê… ở các vùng nông thôn khác, lực lượng Hòa Hảo còn chiếm đóng nên ta khó bám được địa bàn. Tuy nhiên, do có mâu thuẫn giữa Mỹ - Diệm với Hòa Hảo, nên một số nơi ở vùng yếu ta tổ chức và xây dựng được lực lượng thanh niên Hòa Hảo, thành lập được Chi đoàn, từ đó hình thành lực lượng vũ tranh như ở Bình Đức, Vĩnh Thanh thuộc huyện Thoại Sơn. Cuối năm 1960 Đoàn Thanh niên huyện Thoại Sơn có 13 đoàn viên.
*
*      *

THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC ĐẤU TRANH CHỐNG
“CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”, “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA MỸ - NGỤY
1960 - 1968
Sau thắng lợi của phong trào Đồng Khởi năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (20/12/1960) tại Châu Thành (Tây Ninh) có tác động mạnh mẽ đối với nhân dân miền Nam. Đoàn Thanh niên cứu quốc được đổi tên thành Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam. Hội học sinh giải phóng miền Nam cũng được ra đời tạo niềm phấn khởi tin tưởng trong sinh viên học sinh.
Sau thất bại “Chiến tranh đơn phương” đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, tiến hành đánh phá miền Bắc, ở miền Nam Mỹ - Diệm lập các “Ấp chiến lược” gom dân để chúng kiểm soát, tách nhân dân với cách mạng.
Thực hiện âm mưu trên, trong những năm 1961 - 1963 Mỹ - Diệm liên tiếp mở các cuộc hành quân càng quét, ra sức đôn quân, bắt lính, tăng cường quân chủ lực, xây dựng lực lượng Bảo an. Dân vệ đủ sức giành dân, chiếm đất tập trung họ vào các “Ấp chiến lược”, tiêu diệt du kích ta, tiến tới đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi những vùng đất bị chiếm mất trước đó.
Đứng trước tình hình địch thay đổi chiến lược, đẩy chiến tranh lên qui mô lớn. Tỉnh ủy An Giang đã chỉ thị cho các đoàn thể vận động quần chúng, đẩy mạnh hơn nửa phong trào chiến tranh du kích, phá âm mưu bình định lấn chiếm của địch.
Tiếp thu chỉ thị của Tỉnh ủy, Tỉnh đoàn phát động trong toàn Đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào “Du kích chiến tranh”, “Phá ấp chiến lược”. Đa số các đồng chí phụ trách thanh niên các cấp nằm trong Ban chỉ huy quân sự xã, huyện… (như đồng chí Út Việt vừa phụ trách thanh niên vừa giữ chức Phó Ban chỉ huy quân sự thị xã Châu Đốc, đồng chí Ba Tâm là một cán bộ đoàn viên và là Phó Ban chỉ huy quân sự huyện Tri Tôn).
Nhằm theo sát phong trào quần chúng và có chủ trương đúng với địa bàn hoạt động. Tỉnh ủy xác định từng vùng chiến lược và đề ra phương châm đấu tranh cho từng vùng.
Ở vùng tranh chấp: vận động thanh niên tòng quân nhập ngũ, xây dựng các đội du kích mật diệt trừ ác ôn, làm nòng cốt cho sự nổi dậy của quần chúng, gây dựng cơ sở hỗ trợ cho lực lượng bộ đội từ ngoài vào. Nhiều tổ chức quần chúng như: các Hội cứu tế, từ thiện… tập hợp quần chúng, giáo dục giác ngộ họ trở thành lực lượng cách mạng. Do sự hoạt động nổ lực của Đoàn Thanh niên nên cuối năm 1963 phong trào quần chúng ở vùng yếu phát triển mạnh, nam nữ thanh niên người Việt và người Khơmer đoàn kết nhau cùng phá “Ấp chiến lược” tạo điều kiện cho cán bộ bám sát cơ sở. Qua đó nhiều thanh niên trưởng thành được đứng vào hàng ngũ của Đoàn, nhiều Chi đoàn mới được thành lập ở Phú Châu, Tri Tôn… thời gian này Ban Thanh vận tỉnh có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo cán bộ Đoàn cơ sở, nhiều khóa học mang tên Lý Tự Trụng được mở. Tiêu biểu cho phong trào diệt ác, trừ tề, phá ấp chiến lược có đồng chí Huỳnh Thị Hưởng, trong khi đang làm nhiệm vụ trừng trị tên ác ôn Bùi Văn Hoạnh gây nhiều nợ máu với nhân dân, chẳng may chị rơi vào tay giặc, dù bị tra tấn dã man chị vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí Hưởng là một tấm gương sáng cho các bạn trẻ noi theo, họ quyết tâm chiến đấu để trả thù cho chị và nhiều đồng chí khác đã ngã xuống.
Ở vùng giải phóng: là địa bàn do ta kiểm soát, nơi củng cố xây dựng các đơn vị bộ đội, thanh niên các nơi khác được bí mật đưa vào đây để luyện tập quân sự, học tập chủ trương đường lối của Đảng rồi tung đi hoạt động ở khắp các địa bàn. Vùng này du kích chiến tranh phát triển mạnh như ở Ba Chúc, Thới Sơn, Nhà Bàng…
Ở vùng trắng (yếu): do địch kiểm soát hoàn toàn, do đó chủ trương của Tỉnh ủy đấu tranh chính trị là chủ yếu, đồng thời tổ chức các đội biệt động, tổ chức các cuộc ám sát, phá hoại cơ sở địch, phát động quần chúng chống đàn áp, bắt bớ người vô cớ, đòi các quyền dân sinh, dân chủ. Lực lượng thanh niên hoạt động tích cực hỗ trợ với nhân dân cùng nổi dậy tạo điều kiện cho lực lượng quân sự tiến hành đánh chiếm những cơ sở trọng yếu của địch, nhiều ấp chiến lược bị phá vỡ. Có thể nói hoạt động sôi nổi, mạnh mẽ nhất trong vùng địch tạm chiếm là phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên tại hai thị xã Long Xuyên và Châu Đốc, bằng nhiều hình thức đa dạng. Lực lượng vũ trang bí mật được thành lập ngay trong thị xã Long Xuyên do giáo viên và học sinh làm nòng cốt, nhiều trận đánh diễn ra ngay tại cơ quan đầu não của địch ở trung tâm Tỉnh lỵ như trận đánh tàu Hải quân tại bến Nguyễn Du (làm chìm 1 chiếc, hư 1 chiếc, làm chết 11 lính Hải quân) đánh mìn Tòa hành chính tỉnh, đánh mìn định hướng nhà Cố vấn Mỹ đường Lê Văn Duyệt làm 3 tên chết, 7 tên bị thương (nay là trạm bù lao thị xã Long Xuyên), đánh mìn hẹn giờ tại quán Mỹ Vi (nay là Phòng Kế Hoạch thị xã Long Xuyên), nhiều đồn bốt quanh thị xã bị tiêu diệt như đồn Mương Điểm, tên Tám Khen - Trưởng Ban cảnh sát Ngụy bị giết… mặc dù quân số chỉ gần 1 tiểu đội tự vệ mật và 1 tiểu đội vũ trang tập trung (bị động thị) nhưng làm cho bọn địch hoang mang cao độ phải lúng túng đối phó khắp nơi. Đặc biệt, trận tập kích Nhà đèn đêm 9/4/1960 nhân ngày bầu cử Tổng thống Ngụy, tổ tự vệ của đồng chí Nguyễn Đăng Sơn, Út Đường (nay là Giám đốc Sở Tài chánh An Giang) dùng thủ pháp phá hủy Nhà đèn, đồng chí Sơn đã hy sinh tại chỗ, trước khi chết anh hô vang khẩu hiệu: “Hồ Chí Minh muôn năm!!!”. Anh là một thanh niên trưởng thành trong phong trào học sinh, được vinh dự đứng trong hàng ngũ Đoàn, Đảng. Gương chiến đấu kiên cường của đồng chí Sơn làm cho kẻ địch kinh hoàng, đồng thời cổ vũ phong trào học sinh - sinh viên phát triển mạnh mẽ. Nhiều thanh niên, học sinh, giáo viên cốt cán là cán bộ Đoàn được bí mật đưa vào căn cứ học tập bồi dưỡng trở về hoạt động trong lòng địch ở giai đoạn sau.
Song song với đấu tranh vũ trang phong trào đấu tranh chính trị trong học sinh - sinh viên khá rầm rộ, lực lượng chính trị của quần chúng tấn công vào sào huyệt của kẻ thù, đòi lật đổ chính quyền tay sai, trừng trị ác ôn mật thám, kết hợp với các tôn giáo, các tầng lớp khác. Đến ngày 1/11/1963 chế độ độc tài phát xít, gia đình trị của Diệm - Nhu bị đảo chính lật đổ. Cuộc đảo chính là thời cơ thuận lợi cho thanh niên, học sinh, giáo viên nổi dậy trong các trường học. Trường Thoại Ngọc Hầu, Quang Trung, Khuyến Học, Thủ Khoa Huân (tại thị xã Châu Đốc)… lật đổ bọn phản động trong Ban Giám hiệu, tẩy chay công an, mật vụ đội lốt giáo viên. Tại thị xã Long Xuyên có hơn 5.000 học sinh, giáo viên biểu tình, tuần hành đòi loại bỏ bọn giáo viên phản động, cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi.

Sau khi Diệm đổ, Mỹ - Ngụy khủng hoảng triền miên kéo dài. Để cứu nguy cơ sụp đổ của Ngụy quyền trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào miền Nam, đầu 1965 Mỹ ồ ạt đưa quân và các phương tiện chiến tranh vào miền Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Quân Mỹ và chư hầu phối hợp với chủ lực Ngụy tiến hành chiến lược: hai gọng kềm “Tìm diệt và bình định”.
Phong tào phá ấp chiến lược, phá khu trù mật ở Ba Thê, Núi Tô, Ba Chúc diễn ra sôi nổi gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Để tiếp tục đẩy mạnh phong trào thanh niên tổ chức chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới, Tỉnh ủy An Giang quyết định thành lập Ban Thanh vận tỉnh do đồng chí Út Việt, Ngô Sư phụ trách, đồng chí Nguyễn Ngọc Mẫn được phân công chỉ đạo phong trào đấu tranh công khai của học sinh, giáo viên ở Long Xuyên.
Ở vùng giải phóng và vùng tranh chấp, thanh niên hăng hái tòng quân, hầu hết đoàn viên vào du kích, nhiều Chi đoàn vận động thanh niên Khơmer, thanh niên Tôn giáo (đạo Hiếu Nghĩa) ở xã Ba Chúc tòng quân được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh đoàn và Huyện đoàn. Hàng trăm thanh niên tình nguyện gia nhập quân đội, đây là địa phương có phong trào tòng quân, dân quân du kích mạnh mẽ nhất trong tỉnh. Bên cạnh đó là số thanh niên hoạt động bán công khai, ban ngày lao động sản xuất, ban đêm đào lộ đắp đường, rải truyền đơn, binh vận… các xã Thới Sơn, Nhơn Hưng, Ba Chúc… hoạt động thanh niên mạnh nhất ở vùng giải phóng. Địch thực hiện chiến thuật “Cài răng lược” sau một trận tấn công, một trận càn, địch cài lại một bộ phận phục kích chặn đánh bộ đội ta khi trở về địa bàn cũ. Các cuộc hành quân “Bình định” của địch nhằm vào lực lượng chủ lực của ta nên gây cho ta những tổn thất đáng kể.
Phối hợp với phong trào đấu tranh ở vùng nông thôn giải phóng, phong trào thanh niên đô thị diễn ra sôi nổi, nhất là từ khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, chúng du nhập lối sống cao bồi, trụy lạc đầu độc thanh niên ta, gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức vốn nhạy cảm và có tinh thần dân tộc cao.
Mở đầu là phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc nổ ra ở Sài Gòn rồi lan xuống An Giang. Các cuộc Hội thảo về văn hóa dân tộc được tổ chức tại Trường Thoại Ngọc Hầu trong đó có nhà văn - nhà giáo Lữ Phương. Phong trào thu hút mọi lực lượng yêu nước tiến bộ chống văn hóa Mỹ - Ngụy ở các đô thị, sau đó đi sâu và lan rộng vào các vùng nông thôn sâu qua hình thức cứu trợ đồng bào bị lũ lụt năm 1966, được kết hợp khéo léo với phong trào phụ nữ bảo vệ nhân phẩm, đã tập hợp đông đảo nữ giáo viên, nữ học sinh tạo thành lực lượng chính trị rộng lớn ở khắp các trường học và liên lạc cả với Sài Gòn và các tỉnh bạn.
Đầu năm 1966 thanh niên - học sinh các trường trung học Long Xuyên xuống đường đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi Mỹ phải cút khỏi miền Nam, đòi độc lập dân tộc.
Cuối năm 1966 đầu năm 1967, phong trào thanh niên phát triển mạnh, Tỉnh ủy quyết định thành lập Tỉnh đoàn thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam do đồng chí Vũ Hồng Việt làm Tỉnh đoàn trưởng, sau đó hàng loạt Huyện đoàn ra đời như ở Tri Tôn, Tịnh Biên… tiếp tục tổ chức và lãnh đạo quần chúng thanh niên đi vào chiều sâu chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới.
*
*      *
Sau khi đập tan 2 cuộc tiến công mùa khô của Mỹ - Diệm (1965 - 1966 và 1966 - 1967) ta giành được những thắng lợi lớn về quân sự trên khắp chiến trường miền Nam. Tháng 1/1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 của Đảng quyết định: mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân (1968) trên toàn miền Nam, đưa chiến tranh vào đô thị, công kích quân sự ngay tại sào huyệt địch, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của giặc Mỹ.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương, đêm 30 rạng ngày 31/1/1968 các đơn vị chủ lực của ta nổ súng đồng loạt vào 64 thành phố, thị trấn, thị xã ở miền Nam.
Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, nhiều thanh niên An Giang hăng hái lên đường tòng quân, nhiều đơn vị bộ đội mới được thành lập, tỉnh ra mắt cấp tiểu đoàn, huyện ra mắt cấp đại đội, ấp xã có các tiểu đội du kích, tất cả đi vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ở vùng giải phóng bộ đội hăng hái tập dợt quân sự, các đội dân công, hỏa tuyến hình thành phục vụ cho cuộc tổng tiến công.
Tại Long Xuyên hình thành hai mũi:
•    Mũi thứ nhất, là lực lượng chính trị phần lớn là học sinh, giáo viên hoạt động công khai, sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ đến, trường Khuyến Học tập dợt Chi đoàn làm nòng cốt.
•    Mũi thứ hai, là lực lượng vũ trang Long Xuyên đã thành lập đội biệt động khá mạnh: hơn một trung đội gồm tự vệ mật được trang bị vũ khí đầy đủ.
Tình hình hết sức khẩn trương, Tỉnh ủy, Tỉnh đoàn chỉ đạo cho lực lượng học sinh, giáo viên là mũi nhọn xung kích cho cuộc nổi dậy. Lúc này địch theo dõi gắt gao và phát hiện bắt một số cán bộ lãnh đạo phong trào học sinh, trong đó có đồng chí Mười Thành, Út Đường bị địch bắt 30/4/1967. Tòa án quân sự đặc biệt vùng 4 mở tại An Giang tuyên án tử hình 2 đồng chí, 5 học sinh khác bị chung thân khổ sai. Cuộc đấu tranh với địch trước tòa của các đồng chí gây tiếng vang lớn, cổ vũ giáo viên, học sinh, cùng các tầng lớp nhân dân quyết tâm chuẩn bị thời cơ cho cuộc tổng tiến công sắp tới.
Tại Long Xuyên ta bí mật đưa lực lượng vào xây dựng chiến hào, xây dựng cơ sở nội ô, cất giấu vũ khí, tài liệu, truyền đơn.
Ở Châu Đốc lực lượng ta đánh thẳng vào núi Tô, trận đồn Sân Trâu ta tiêu diệt toàn bộ quân địch, duy chỉ còn một tên sống sót, sau đó hắn mất trí vì trận này.
Tuy ta giành được thắng lợi ở vòng ngoài, nhưng tại hai thị xã Long Xuyên - Châu Đốc thì không tiền hành được vì thời cơ nổi dậy kết hợp với tiến công chưa có, địch chủ trương đối phó, trong khi lực lượng của ta chưa đủ mạnh để đánh chiếm tỉnh lỵ.
*
*      *

CÙNG VỚI NHÂN DÂN TRONG TỈNH, THANH NIÊN LONG XUYÊN - CHÂU ĐỐC GÓP PHẦN TO LỚN VÀO SỰ THẮNG LỢI CỦA CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC HOÀN THÀNH CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở TỈNH NHÀ 1969 - 1975

Sau Tết Mậu Thân 1968, nhìn toàn cục chiến trường miền Nam địch thất bại nặng nề, Johnson rời khỏi Nhà Trắng, Nixon lên thay đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tại An Giang địch điên cuồng đánh phá, tiến hành đàn áp, khủng bố thẳng tay những người yêu nước, nhiều cơ sở cách mạng ở Long Xuyên bị đánh bật, hàng loạt đồng chí, đồng bào bị bắt, các tổ chức hoạt động công khai bị lộ phải rút về căn cứ, hoạt động bí mật ở một số cơ sở phải nằm im để tránh tổn thất. Một bộ phận lớn chạy sang Campuchia củng cố xây dựng lại lực lượng. Cuối năm 1968 phong trào tạm lắng xuống, không đi bề nổi mà lắng vào chiều sâu, bảo vệ củng cố cơ sở, chuẩn bị chờ thời cơ.
Đầu năm 1969, Tỉnh họp đánh giá tình hình: tại thị xã Long Xuyên nếu không lấy lực lượng giáo chức, học sinh, sinh viên làm xung kích đấu tranh công khai với địch thì không thể nào phục hồi và thúc đẩy phong trào lên được. Trong khi ấy địch chủ quan nghĩ rằng chúng đã quét xong lực lượng của ta ở thị xã nên tập trung bắt thanh niên đi lính, tập trung binh lực đánh vào các vùng sâu tạo sơ hở ngay trong lòng địch. Nắm lấy chủ yếu đó ta xây dựng lại cơ sở ở các phường xã bằng các hình thức công khai, bán công khai, hoạt động theo thể thức “Tam - Tam” (tổ 3 người).
Năm 1970 tình hình chuyển biến lớn có ảnh hưởng đến cách mạng của nhân dân An Giang. Đầu năm 1970 Mỹ - Ngụy đưa trên 10 vạn binh lính sang Campuchia cứu nguy cho chính quyền non yếu của Lennol có nguy cơ sụp đổ. Cùng lúc đó bọn cực đoan trong cộng đồng người Khmer ở Campuchia gây ra vụ thảm sát Việt kiều đang làm ăn sinh sống trên đất campuchia. Trước hành động man rợ đó, thanh niên - học sinh - sinh viên nổ ra cuộc đấu tranh phản đối nhà cầm quyền Lennol, lên án Lennol bằng khẩu hiệu đấu tranh “phản đối Lennol”. Phong trào của học sinh - sinh viên lôi kéo các tầng lớp nhân dân thị xã Long Xuyên hưởng ứng, học sinh các trường trung học tuần hành biểu dương lực lượng hô vang các khẩu hiệu “Thương kiều bào, nguyện hiến thân bảo vệ, hận Lennol thề lấy máu quyết trả thù”. Song song với khẩu hiệu đấu tranh trên học sinh - sinh viên dấy lên phong trào đòi “quả phu cầm dùi”… đòi những quyền lợi dân sinh dân chủ mang tính chất thiết thực như: “Giáo chức có nhà”… giành được thắng lợi.
Lực lượng tuổi trẻ học đường Long Xuyên tổ chức đốt lửa trại thực hiện “Đêm không ngủ” dáy lên phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”, “Dậy mà đi”. Cùng lúc này sinh viên trường Đại học Hòa Hảo (Đại học Hòa Hảo do Lê Phước Sang thành lập 1970 để đào tạo sĩ quan công chức làm tay sai cho giặc. Nhưng đa số thanh niên học ở đây là trốn quân dịch) do Lê Phước Sang thành lập. Y là tên gián điệp đội lốt tôn giáo âm mưu chống phá cách mạng điên cuồng. Chúng dùng các giáo lý phản động đầu độc ru ngủ thanh niên, sinh viên. Tỉnh đoàn đã khéo léo bí mật tổ chức thành lập Chi đoàn sinh viên trong tường, làm hạt nhân gây dựng cơ sở và làm ngòi nổ cho các phong trào đấu tranh của học sinh - sinh viên.
Đến giữa những năm 1970 các tổ chức quần chúng trong tỉnh được hình thành xây dựng khá hoàn chỉnh (Tổng đoàn học sinh) ra đời có nhiệm vụ tuyên truyền vận động học sinh giáo dục lý tưởng cộng sản cho họ, tránh bi quan dao động, đồng thời đại diện sinh viên còn liên hệ phối hợp hành động với phong trào học sinh - sinh viên ở Sài Gòn, Cần Thơ… Đoàn Thanh niên tranh thủ sự ủng hộ của nhân sĩ, của các tôn giáo trong tỉnh, phong trào giáo chức đấu tranh lên án bản chất thâm độc xảo quyệt của kẻ thù, họ đứng ra làm nồng cốt cho các cuộc đấu tranh của học sinh - sinh viên, lập các tổ chức bán công khai như: “Hội ái hữu”, “Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi Phụ nữ Việt Nam”, “Liên đoàn công - tư chức Phật tử”… Tiêu biểu thời kỳ này là sự phối hợp giữa học sinh - sinh viên với giáo chức cùng hàng ngàn người ở thị xã Long Xuyên đấu tranh phản đối Ngụy quyền tra tấn dã mang dẫn đến cái chết của anh Nguyễn Hồng Đăng, họ xuống đường biểu tình đòi bồi thường cho gia đình nạn nhân, đòi xóa bỏ chiến dịch “Phượng hoàng”. Khí thế cuộc đấu tranh tạo thành phong trào công khai rộng lớn có chiều sâu, kết hợp chặc chẽ với phong trào học sinh - sinh viên ở Sài Gòn. Sinh viên Viện Đại học Hòa Hảo do Chi đoàn làm nòng cốt xuống đường chống bọn đội lốt tôn giáo, chống “Quân sự hóa học đường” giành được thắng lợi vang dội, các nơi khác tiến lên giành quyền dân chủ trong nhà trường, tổ chức sinh viên - học sinh hoạt động công khai bảo vệ quyền lợi học sinh ở các trường Thoại Ngọc Hầu, Chưởng Binh Lễ.
Phong trào học sinh - viên nổ ra liên tục và trưởng thành qua các cuộc đấu tranh, được sự ủng hộ rộng rãi của mọi giới kể cả một số ngụy quân ngụy quyền tiến bộ. Cuối năm 1971 cán bộ Đoàn viên thanh niên thành lập đội biệt động thị xã, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức đưa một số thanh niên ưu tú vào vùng giải phóng để huấn luyện, bổ sung, xây dựng củng cố lực lượng chuẩn bị trở về giải phóng tỉnh nhà, nhiều đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng. Tại thị xã Long Xuyên thành lập đội vũ trang tuyên truyền do Đoàn viên thanh niên đảm nhiệm, hoạt động hợp pháp, xây dựng cơ sở bên trong.
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam giành được thắng lợi, quân Ngụy - cái xương sống của “Việt Nam hóa chiến tranh” bị gãy, đế quốc Mỹ tiến hành tập kích 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, Hải phòng… nhưng chúng bị thất bại nhục nhã, buộc Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 24/1/1973. Hiệp định Paris được ký là một thắng lợi rất cơ bản của quân và dân ta, buộc Mỹ phải rút quân, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.
Cuối năm 1973, địch tiến hành phá  hoại Hiệp định Paris bằng các cuộc hành quân “Tảo thanh” tại Long Xuyên - Châu Đốc tăng cường đàn áp quyết liệt phong trào học sinh - sinh viên, ra sức bắt lính trong trường học. Thanh niên An Giang hăng hái gia nhập quân đội, quyết không đi lính làm bia đở đạn cho giặc.
Năm 1974, đồng chí Tư Việt Sinh được bầu làm Bí thư Tỉnh đoàn Long Châu Hà, đồng chí Trần Bá Ngô được bầu làm Phó Bí thư. Tỉnh đoàn phát động phong trào thanh niên tòng quân diễn ra rầm rộ, nhiều đơn vị bộ đội mới được thành lập. Tình hình chuyển biến mau chống thuận lợi chưa từng thấy. Nhiều địa phương chỉ trong một tuần lễ có đến 50 - 60 thanh niên gia nhập bộ đội, họ lên đường “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Các cấp bộ đoàn đứng ra mở lớp tập huấn cho lực lượng thanh niên học tập nắm vững chủ trương mới của Đảng.
Ngày 10/3/1975 cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân dân miền Nam bắt đầu. Ở An Giang cùng lúc ấy bộ đội tiến công giải phóng Nam Thới Sơn, một phần ba (1/3) số xã trong tỉnh thành lập được Đoàn cơ sở, huyện Huệ Đức, Tri Tôn, Châu Đốc, Châu Thành thành lập được Huyện đoàn.
Tháng 4 năm 1975 hầu hết cán bộ đoàn đều được phân công bám sát chiến trường và địa bàn hoạt động, vận động thanh niên tham gia lực lượng vũ trang và bán vũ trang, nhiều xã hình thành các trung đội dân quân tự vệ, đôi du kích chiến đấu.
Ngày 30/04/1975 các đơn vị bộ đội và ban ngành của tỉnh tiến về giải phóng Tỉnh lỵ Long xuyên, quân địch chống trả quyết liệt, đặc biệt lực lượng Hòa Hảo ngoan cố chống cự làm chậm bước tiến của ta. Trước tình hình ấy Chi đoàn Viện Đại học Hòa Hảo phối hợp hành động linh hoạt, nhịp nhàng với các đơn vị bạn chiếm giữa Đài Viễn thông của địch, gọi điện về Cần Thơ nhờ lực lượng Khu chi viện. Chiều ngày 1/5/1975 ta làm chủ hoàn toàn thị xã Long Xuyên, thanh niên - học sinh - sinh viên tiếp quản Viện Đại học Hòa Hảo trong không khí tưng bừng của ngày vui đại thắng, các địa phương khác quần chúng cũng nổi dậy tự giải phóng mình.
---o0o---

PHẦN TỔNG KẾT
Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 là thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử 200 năm dựng và giữ đất nước của nhân dân Long Xuyên - Châu Đốc. Thắng lợi này góp phần vào sự thắng lợi chung của nhân dân cả nước, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trải qua gần nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Long Xuyên - Châu Đốc (1927 - 1975). Ngay từ đầu, Đoàn Thanh niên đi từ Chủ nghĩa yêu nước chân chính họ tìm đến Chủ nghĩa Mác - Lênin và hoạt động trong tổ chức Việt Nam thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, sau đó họ trở thành những người cộng sản trẻ tuổi đầu tiên trong tỉnh. Cũng từ đó với cương vị mới họ tổ chức và lãnh đạo các thế hệ thanh niên cùng các tầng lớp nhân dân trong tỉnh liên tiếp đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ thắng lợi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở tỉnh nhà.
Các tầng lớp thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc trải qua nhiều thế hệ luôn thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, một lòng một dạ trung thành với lý tưởng của Đảng, thủy chung với cách mạng, xứng là con cháu Chủ tịch Tôn Đức Thắng kính mến.
Là những hạt nhân đầu tiên của phong trào yêu nước trong tỉnh, Đoàn Thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc tuy thay đổi qua nhiều tên gọi khác nhau cho phù họp với từng thời kỳ lịch sử, nhưng về thực chất đây là tổ chức của những người cộng sản trẻ tuổi. Qua từng giai đoạn cách mạng Đoàn Thanh niên của tỉnh đã vận động tuyên truyền giáo dục các tầng lớp thanh niên từ nông thôn đến thành thị, phong trào thanh niên người Việt lôi kéo cả thanh niên dân tộc Khmer, thanh niên tôn giáo Hòa Hảo cùng hòa nhập vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân trong tỉnh. Họ có mặt hầu hết trên các lĩnh vực cách mạng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, khéo léo, linh hoạt, hàng vạn bạn trẻ đã ngã xuống dưới gót giầy xâm lược của bọn thực dân và tay sai , cuối cùng họ vẫn bước đi tới đích: giải phong tỉnh nhà khỏi ách thống trị của ngoại bang.
Có thể nói qua hơn 40 năm đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng, thanh niên Long Xuyên - Châu Đốc mà đại biểu của nó là tổ chức Đoàn có thể tự hào rằng lực lượng của mình đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của nhân dân trong tỉnh, xứng đáng là thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh.
Lịch sử đã sang trang, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới: gai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, chặng đường tiếp theo sau tuy mới mẽ còn nhiều bở ngỡ đầy khó khăn thử thách nhưng trước những yêu cầu bức thiết của xã hội hàng chục vạn thanh niên An Giang đoàn kết xung quanh Ban Chấp hành Tỉnh đoàn thanh niên cộng sản ra sức học tập, lao động sản xuất và chiến đấu và xóa bỏ cảnh nghèo nàn, lạc hậu do hậu quả chiến tranh để lại, nhất định cùng cả nước xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc quê hương Bảy Núi anh hùng, niềm tự hào của nhân dân An Giang. Xứng đáng với biết bao thế hệ ngã xuống mới có độc lập tự do hôm nay./.


 
 
 
 
 

 

Video Clip
Skip portlet Portlet Menu

Welcome to Web Content Management

Display content, links, and other components from your site.

 

Tin ngắn
Skip portlet Portlet Menu
Triển khai cuộc thi xây dựng thông điệp Phòng chống dịch bệnh và tiêm chủng mở rộng (25/08/2014) Để chủ động ngăn chặn dịch bệnh, hạn chế đến mức thấp nhất số người mắc và số người tử vong. Bộ Y tế tổ chức cuộc thi xây dựng các thông điệp phòng, chống dịch bệnh và tiêm chủng mở rộng. Mọi thông tin chi tiết về cuộc thi đề nghị tham khảo tại địa chỉ http://www.thongdiepsuckhoe.com.vn.
 
Tìm kiếm
Skip portlet Portlet Menu
 

Văn hoá - giải trí
Skip portlet Portlet Menu
 

Thông tin cần biết
Skip portlet Portlet Menu
 

Góc quảng cáo
Skip portlet Portlet Menu
 

Welcome to Web Content Management

Display content, links, and other components from your site.

 
 
 
 
Tỉnh Đoàn Tỉnh An Giang.
Địa chỉ: 24 Tôn Đức Thắng, Phường Mỹ Bình, TP. Long Xuyên, T. An Giang.
Điện thoại: 076 3 852 318 - Fax: 076 3 853 048
Email: tinhdoan@angiang.gov.vn
Mọi bài viết xin gởi về: banbientaptdag@gmail.com
@Ghi rõ nguồn "Tỉnh Đoàn tỉnh An Giang" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này